NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
- LÝ THUYẾT
Nhà văn M.Gorki đã đúc kết: “Văn học là nhân học”. Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học, dù trực tiếp hay gián tiếp thì văn học đều miêu tả con người. Nhân vật văn học là hình thức miêu tả con người một cách tập trung nhất, là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng. Nhân vật là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống nghệ thuật, trong một thời kỳ lịch sử xã hội nhất định.
Bởi vậy, mỗi khi nhớ đến những nhà văn nổi tiếng, độc giả thường nghĩ ngay đến những hình tượng nhân vật mà các nhà văn đã sáng tạo nên. Chẳng thế mà khi nói đến XécvăngTex, người ta nghĩ ngay đến Đôn Kihôtê; nói đến Lỗ Tấn, người ta nhớ đến A.Q, Khổng Ất Kỷ, Nhuận Phổ; nói đến L.Tônxtôi, người đọc biết rằng đó là cha đẻ của Anna Karênina, Natasa Rốtxtôva, Anđrây Bônxcônky…
Ở nước ta, nhớ tới nhà văn Nam Cao là nhớ Thứ, Lão Hạc, Chí Phèo; nhớ Nguyên Hồng là nhớ Tám Bính; nhớ Vũ Trọng Phụng là nhớ Xuân tóc đỏ, nhớ Lê Lựu là nhớ Giang Minh Sài… Vì lẽ đó khi nói về kinh nghiệm viết văn hơn ba mươi năm của mình, nhà văn Anh Đức đã viết: “Có thể nói sự tồn tại của nhà văn đồng nghĩa với sự tồn tại của nhân vật mà họ tạo nên với ý nghĩa là những nhân vật đó đạt đến mức là những điển hình. Sức chịu đựng và thử thách của một tác phẩm, lâu bền hay ngắn ngủi rõ ràng nhờ nhân vật là chính.”.
1. Định nghĩa
– Là hình tượng nghệ thuật được nhà văn xây dựng trong tác phẩm. Nhân vật đóng vai trò cốt yếu của truyện, cũng là tiêu điểm để nhà văn khái quát bức tranh đời sống và bộc lộ tư tưởng của mình trong tác phẩm.
– Xây dựng nhân vật là một trong những khâu quan trọng nhất trong sáng tác văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng. Nhà văn Măc-xim Gorki từng khuyên một nhà văn trẻ: “Anh hãy bỏ nghề viết đi. Đấy không phải là việc của anh, có thể thấy rõ như thế. Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả con người sinh động, mà đấy lại là điều chủ yếu”.
- Nhân vật văn học rất đa dạng: thiên nhiên, con người, loài vật… nhưng chủ yếu nhất vẫn là con người. Con người trong văn học vô cùng phong phú, thuộc mọi tầng lớp xã hội, vị trí, lứa tuổi, thời đại lịch sử…
- Nhân vật văn học phản ánh bản chất và các mối quan hệ của con người trong xã hội song đó không phải là sự sao chép, mô phỏng giản đơn mà đó là những hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ do tác giả hư cấu, sáng tạo nên. Nhân vật thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn và rộng hơn là quan niệm nghệ thuật về con người của mỗi thời đại văn học.
2. Nhân vật hiện lên qua các phương diện
+ Ngoại hình: là hình dáng, diện mạo, trang phục, cử chỉ, tác phong… nói tóm lại là toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bề ngoài của nhân vật. Ngoại hình nhân vật có thể được khắc họa trực tiếp qua ngôn ngữ người kể chuyện (như ngoại hình Chí Phèo) hoặc gián tiếp qua ngôn ngữ hoặc cái nhìn của nhân vật khác trong tác phẩm (ngoại hình người “vợ nhặt” trong mắt Tràng qua hai lần gặp ở ngoài chợ tỉnh). Thông qua việc thể hiện ngoại hình nhân vật sinh động, nhà văn sẽ bộc lộ rõ tính cách nhân vật cũng như cá biệt hóa nhân vật.
Nhân vật trong truyện ngắn thường được nhà văn khắc họa chân dung bằng việc miêu tả toàn bộ hình dáng, đường nét bên ngoài hoặc chỉ là tập trung miêu tả những nét nổi bật nhất trong diện mạo của nhân vật. Trong truyện ngắn hiện đại, việc khắc họa chân dung nhân vật bằng cách miêu tả ngoại hình không phải chỉ để giới thiệu nhân vật một cách chung chung, đại khái mà luôn có mục đích nghệ thuật. Mỗi một gương mặt, mỗi một dáng hình nhân vật được miêu tả là mỗi một nét tính cách được thể hiện và gắn với nó là một hoạt động tâm lý được phác họa.
VD: Trong “Khách ở quê ra”, Khúng xuất hiện trong chân dung “vừa gầy, vừa đen, vừa già lại vừa xấu”. Con người ấy có hai bàn tay “đầy những chỗ nổi u cục, các ngón vặn vẹo và bọc một lớp da giống như một thứ vỏ cây và cả bàn tay lão giống y như một tòa rễ cây vừa mới đào ở dưới đất lên”, và “cái mặt có nước da tai tái và rám nâu như da thuộc với những đường nét gẫy khúc đầy khắc khổ, với những khoảng lồi lõm như những khoảng đất cày đắp lên và từ sau hàng lông mày rậm rì và cứng, lúc nào cũng chiếu ra chung quanh một cái nhìn ngang bướng và đầy ngờ vực”.
Đó là chân dung đích thực của một lão nông miền Trung lam lũ và kiên cường, vắt kiệt mồ hôi và sức lực để biến đất hoang, rừng rậm thành ruộng nương, sắn gạo, là hòn đá tảng vừa vững chãi vừa kiên cố, là chân dung điển hình của những tính cách nông dân luôn hoài nghi, bảo thủ, nhất nhất chỉ tin vào bản thân mình.
Sự dị thường về hình thức của Khúng trên thực tế đã ảnh hưởng đến cả tính cách nhân vật: sự cần cù, dũng cảm, kiên cường…cả sự gàn dở, trái khoáy. Dẫu vậy, nhân vật Khúng vẫn mang đậm bản chất của người nông dân miền Trung nói riêng, người nông dân Việt Nam nói chung.
+ Hành động: Là những việc làm cụ thể của nhân vật trong mối quan hệ ứng xử với nhân vật khác trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Cũng như ngoại hình, hành động của nhân vật được miêu tả qua ngôn ngữ của người kể chuyện hoặc ngôn ngữ của nhân vật khác. Hành động của nhân vật phải thể hiện một cách nhất quán, thể hiện rõ tính cách của nhân vật ấy. Nhà văn phải có khả năng thấu hiểu tâm lí con người và thâm nhập sâu sắc vào cuộc đời thì mới tái hiện nhân vật sống động như ở đời thực. Ở điểm này, nhà văn Nga Lep-tôn- xtôi có lời khuyên rất ý nghĩa: “Hãy sống cuộc sống của các nhân vật được miêu tả và tự các nhân vật sẽ làm những gì mà họ cần phải làm do tính cách của họ”.,
VD: Trong truyện ngắn Cô Kếu, gái tân thời, Nguyễn Công Hoan viết như sau: “Rồi cô mặc quần trắng, xếp cho thẳng nếp, đứng ống. Rồi cô vận cái sơ mi, cái áo cánh và áo dài sặc sỡ, vuốt cho phẳng phiu. Xong đâu đấy, cô lận đôi giày mang cá, ôm cái ví đầm, đến trước tủ gương mà đứng. Cô quay đằng trước. Cô quay đằng sau. Cô đi đi. Cô lại lại. Cô uốn éo. Cô thướt tha. Rồi cô đứng yên. Cô ngắm. Cô bàn. Cô tán. Cô bình phẩm… Cô khoái lắm!”.
Hàng loạt các hành động được nhân vật thực hiện nối tiếp nhau qua những câu trần thuật ngắn. Miêu tả hành động của nhân vật một cách ồ ạt như vậy, Nguyễn Công Hoan buộc người đọc phải dõi theo để cuối cùng bật ra tiếng cười bởi “Cô khoái lắm!”.
Những hành động của cô Kếu cho thấy cô là một cô gái đua đòi, chưng diện đến thái quá. Những hành động thái quá của cô đã bộc lộ cái bản chất đích thực của con người cô: đang sốt lên với phong trào “Âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung”. Và cái niềm vui, sự khoái chí của cô tầm thường đến độ chỉ cần được vài phút ăn diện với chính mình trước gương là đủ để “khoái lắm” rồi.
+ Diễn biến tâm trạng: hay còn gọi là diễn biến nội tâm, tức toàn bộ cuộc sống bên trong của nhân vật – đó là tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, những phản ứng tâm lí của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật chứng kiến hoặc thể nghiệm trên bước đường đời của mình. Nhà văn có thể trực tiếp biểu hiện nội tâm nhân vật bằng ngôn ngữ của chính mình với tư cách người kể chuyện nhưng biện pháp mà nhà văn hay dùng nhất là gián tiếp thông qua độc thoại nội tâm và đối thoại trong nội tâm nhân vật. Những đoạn này được thực hiện bằng chính ngôn ngữ của nhân vật, chúng “vang lên” một cách thầm lặng trong tâm tư của nhân vật. Nhân vật tự biểu hiện, phơi bày những diễn biến trong tâm trạng của mình qua những suy nghĩ, cảm xúc cụ thể.
VD: Ở Phiên chợ Giát, độc thoại nội tâm đã trở thành đỉnh cao của nghệ thuật phân tích tâm lí. Nguyễn Minh Châu lấy trạng thái tâm lí làm đối tượng miêu tả và xây dựng tác phẩm trên cơ sở theo dõi diễn biến ý thức nhân vật.
– Trong thời gian năm tiếng từ nửa đêm tới sáng và trên con đường từ nhà đến chợ cầu Giát, một mình giữa đêm tối với con Khoang đen, đối thoại nội tâm là giọng của lão Khúng suốt cả tác phẩm.
- Đối thoại nội tâm hay đối thoại bên trong, ở đó giọng nói của nhân vật bị xẻ làm hai, thành hai giọng đối nghịch đã được Nguyễn Minh Châu sử dụng tinh tế,sắc sảo. Nhà văn để lão Khúng tự kể, tự suy nghĩ, tự thoại để qua đó tự bộc lộ mình. Việc đứng ngoài tác phẩm của nhà văn giúp nhân vật được thể hiện tự nhiên, đa chiều, khách quan hơn.
- Giữa đêm tối mênh mông, đối thoại nội tâm đã khiến trạng thái tâm lí của lão Khúng hiện lên có đầu cuối, khiến lời nói ra và không nói ra của lão hết sức tự nhiên: “Chao ôi cả một trời sao trên đầu lão, càng nhìn càng thấy lắm, trong khi ấy thì ở dưới mặt đất vào lúc này dường như chỉ có một mình lão và con bò đang thập thõm, mò mẫm đi giữa mặt đất bao la và tăm tối.” (…)
- Đi,đi! Không có việc gì cả đâu, lão vẫn tiếp tục cười khùng khục và đàm đạo với con vật bạn đường, đi đi, không phải tao cười mày. Hì.. hì.. tao đâu dám cười mày? Đấy là tao đang cười những ông sao trên trời!”.
-> Những câu hỏi rồi những câu trả lời của lão Khúng giúp người đọc khám phá nhân vật trên bình diện nội tâm của cả một quá trình tâm lí.
– Quyết định bán con Khoang đen, lão đã phải trải qua một giấc mơ hãi hùng, lão tự hỏi mình: “Ai? Ai đã giết con khoang đen nhà lão, người bạn đời của lão? Lão nào? Thằng già chết tử chết tiệt nào, đứa thần trùng nào, bọn trộm cướp giết người của dân kẻ bãi hay sơn tràng nào?”, rồi lão tự trả lời “Thì lão chứ ai! Đứa hung thần là lão Khúng chứ ai! Kẻ nâng chiếc búa tạ lên đánh vào đầu con vật là lão chứ ai! Tay chân run lẩy bẩy, mồ hôi toát ra khắp sống áo đầm đìa, lão Khúng sợ quá. Lão đã trở nên độc ác quá mức, thật là vô cùng ác độc, mà lão đã trở nên độc ác ngoài sức nghĩ của con người từ bao giờ vậy?”.
-> Những độc thoại nội tâm, những câu hỏi với chính mình của lão xoáy sâu vào người đọc, nêu bật lên những mâu thuẫn, những đối nghịch đang giằng xé, co kéo trong lòng lão.
+ Ngôn ngữ: là yếu tố quan trọng vì ngôn ngữ là căn cứ để biểu đạt phẩm chất, tính cách của mỗi con người, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình cá biệt hóa nhân vật. Ngôn ngữ nhân vật thường phải là sự kết hợp giữa tính cá thể – nét riêng của nhân vật và tính khái quát – đặc điểm ngôn ngữ của một tầng lớp người nào đó. Trong văn học hiện đại, ý thức cá nhân phát triển, việc cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật trở thành một yêu cầu thẩm mĩ.
VD: Ngôn ngữ của Chí Phèo
Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) lúc còn hầu hạ nhà chủ, hầu như không được tác giả không miêu tả một lời nói nào của nhân vật này. Điều đó đã phản ánh sự nhẫn nại, cam chịu của kiếp người nông dân nô lệ.
Nhưng sự thay đổi tính cách của Chí sau khi ra tù đã bộc lộ rõ trong những lúc hắn cất tiếng ăn vạ, kêu làng, đốt nhà, cướp của, “con quỉ dữ”… Ngôn từ của người nông dân có phẩm chất hiền lành biến mất, thay vào đó là lời lẽ của kẻ lưu manh, côn đồ. Nhưng trước Bá Kiến, hắn vẫn bộc lộ bản chất nô lệ khi xưng hô rất tử tế.
Đặc biệt, đoạn đối thoại giữa Bá Kiến và Chí Phèo cho thấy ngôn ngữ của Chí Phèo là ngôn ngữ của một kẻ hỗn láo, chuyên dọa dẫm nhưng có phần dễ thỏa hiệp. Rõ ràng, dù là người đi ăn vạ nhưng cuối cùng Chí Phèo hoàn toàn lại bị thua cuộc trước một Bá Kiến dày dạn, khôn ngoan. Trước cuộc đối thoại, mang tâm lí của kẻ đi dọa dẫm ăn vạ nhưng sau khi nghe những lời ngon ngọt của Bá Kiến, Chí Phèo đã đánh mất ý định và từ từ đánh mất nhân cách của mình; từ một kẻ mang nặng mối thù, Chí trở thành tay sai đắc lực của Bá Kiến. VD: Ngôn ngữ Bá Kiến
Ngoài ra, trong đoạn đối thoại này, Nam Cao còn xây dựng thành công ngôn ngữ đối thoại của Bá Kiến nhằm bộc lộ tính cách của nhân vật này.
Đoạn đối thoại đã làm rõ chân dung của Bá Kiến: một tên cáo già tinh ranh, lọc lõi. Trong đoạn đối thoại, Bá Kiến nói hầu hết lời thoại. Mỗi lời thoại của hắn đều làm bật lên tính cách của một con người gian xảo, quỷ quyệt.
+ Lời nói của Bá Kiến luôn tỏ ra thân mật, quan tâm tới Chí Phèo “Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi?”; thậm chí để đạt được mục đích xoa dịu Chí Phèo, Bá Kiến lại ỡm ờ nói rằng giữa mình và Chí Phèo thân quen như người trong nhà “người ngoài biết, mang tiếng cả”, “Ai, chứ anh với nó còn có họ nữa cơ đấy”, hay có lúc Bá Kiến đưa Chí Phèo lên ngang hàng với mình “Người lớn cả…”.
+ Ngôn ngữ của Bá Kiến là ngôn ngữ của một người có quyền thế lại rất mực tinh ranh, quát nạt hay dịu dàng cũng khiến người ta tuân phục. Ngôn ngữ đối thoại của Bá Kiến thể hiện rõ cái lọc lõi của một tên cáo già đầy thủ đoạn và kinh nghiệm trong việc hà hiếp, thống trị nông dân. Bá Kiến hiểu rất nhanh và rất chính xác cơ sự xảy ra. Lời nạt nộ quát tháo của Bá Kiến đối với Lí Cường (cùng với cử chỉ đưa mắt) càng bộc lộ rõ hơn bản chất nham hiểm của một tên “ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn mình”
3. Cách phân chia các kiểu loại nhân vật
Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm: có nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm.
– Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm. Trong tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu có nhiều nhân vật chính : đó là Giang Minh Sài, Hương – người yêu của Sài, Tuyết – vợ cả của Sài, Châu – vợ hai của Sài, …Trong số những nhân vật chính ấy, nhân vật được nhà văn tập trung thể hiện đặc biệt nổi bật, có nghĩa tư tưởng thẩm mỹ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung tâm: Giang Minh Sài. Bên cạnh các nhân vật chính còn có các nhân vật phụ, đó là bố mẹ Sài, trung úy Hiểu – người phụ trách trực tiếp của Sài, chính ủy Đỗ Mạnh, Hiền – cán bộ trợ lí bảo vệ. Những nhân vật phụ đã góp phần làm cho câu chuyện thêm sinh động, hấp dẫn và đôi khi là những điểm nhấn quan trọng cho việc khắc họa tính cách của nhân vật trung tâm.
Xét về phương diện tư tưởng có hai loại nhân vật : nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực).
Hai loại hình nhân vật này thể hiện mối quan hệ của nhà văn với lí tưởng xã hội.
+ Nhân vật chính diện thường được tác giả đề cao và khẳng định, đó là nhân vật mang tính lí tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, của thời đại; khi nhân vật này có y nghĩa mẫu mực cao độ cho lối sống của một tầng lớp, một giai cấp, một dân tộc thì nó được gọi là nhân vật lí tưởng. Chẳng hạn như hình tượng nhân vật y tá Quỳ trong truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Một người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp sau những năm lăn lộn trong cuộc chiến tranh ác liệt, chị đã cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp của con người nơi trần thế: “Cuộc đời không có thánh nhân, cũng không có một người nào mà tâm hồn hoàn toàn không thể cứu chữa được”. Bằng ý chí, nghị lực và cả sự hy sinh, chị đã nỗ lực góp phần cải hóa cái xấu thành cái đẹp, bởi chị tin và hiểu rằng: “… Cuộc sống từ bao đời đã là như thế, con người là sự kết tinh của những tinh hoa;…tập trung trí tuệ và tài năng trác tuyệt…. Và mang trong lòng tất cả khát vọng cháy bỏng của nhân dân”.
+ Nhân vật phản diện là những nhân vật mang phẩm chất xấu xa, trái đạo lí và lí tưởng, đối lập về tính cách với nhân vật chính diện, nằm trong sự phê phán, phủ định của tác giả. Tuy nhiên, khái niệm “nhân vật chính diện” và “nhân vật phản diện” đều thuộc phạm trù lịch sử, chúng tương ứng với khuynh hướng xã hội và quan niệm đạo đức của từng thời đại nên khi xem xét, phân loại cần tránh nhìn nhận một cách máy móc, áp đặt.
Xét từ cấu trúc nhân vật: nhân vật chức năng, loại hình, tính cách, tư tưởng. Có thể nói tới loại nhân vật tư tưởng, thường được nhà văn sáng tạo để minh họa cho một quan điểm tư tưởng của mình hoặc để thể hiện một tư tưởng nào đó của thời đại. Trong Chùa đàn của Nguyễn Tuân, nhân vật Lãnh út hay Lịnh – người tù chính trị 2910, được nhà văn xây dựng với tất cả sự kỳ lạ, độc đáo, khác thường, phức tạp nhưng đầy tính nhân văn. Thông qua nhân vật tư tưởng của mình, nhà văn muốn khắc họa một chủ đề lớn lao là tôn vinh giá trị của nghệ thuật. Đồng thời bằng những sự kiện li kỳ, kinh dị Chùa đàn đã trình bày, biện luận, chứng minh một luận đề triết lí: Tự hủy diệt để tái sinh, một luận đề xuyên suốt trong hàng loạt các tác phẩm của Nguyễn Tuân. Hay nói một cách khác, qua phương pháp hình tượng hóa nhân vật, nhà văn muốn dẫn giải một tư tưởng: sự chuyển biến cách mạng trong nhận thức là cực kỳ nghiêm trọng, quyết liệt.
Khi xây dựng nhân vật, điều quan trọng là nhà văn phải xây dựng được tính cách của nhân vật. Tính cách có vai trò vô cùng quan trọng đối với cả nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Ngoài ra, còn có thể nói tới một số loại hình nhân vật khác, nhưng nhìn chung khi phân định loại hình nhân vật phải rất linh hoạt dựa trên cơ sở khả năng phản ánh hiện thực của chúng và y đồ tư tưởng của nhà văn. Từ khái niệm nhân vật tới khái niệm tính cách và tính cách điển hình là những mức độ khác nhau về chất lượng tư tưởng – nghệ thuật của sự thể hiện con người trong tác phẩm văn học. Trong nghiên cứu văn học, khái niệm “nhân vật” theo nghĩa rộng nhất mới là hình ảnh về con người, khái niệm “tính cách” đã là hình tượng về con người, còn khái niệm “tính cách điển hình” chính là điển hình về con người. Như vậy, dùng khái niệm “nhân vật” là chỉ đối tượng được nói đến, còn dùng “tính cách”và “tính cách điển hình” là đã bao hàm cả sự đánh giá về chất lượng tư tưởng – nghệ thuật của đối tượng. Đúng như nhà nghiên cứu lí luận văn học A.Bennett đã nhận định : “Cơ sở của văn xuôi đích thực là sự khắc họa các tính cách nhân vật và không còn gì nữa”.
4. Nhân vật điển hình
- Là hình tượng nghệ thuật đặc sắc, được miêu tả sinh động, hấp dẫn, khái quát được những nét bản chất nhất, quan trọng nhất của con người và đời sống. Cơ sở của điển hình nghệ thuật là điển hình xã hội. Như nhà văn Nga Tuốc-ghê- nhép có nói: “Điển hình là con người cụ thể của một thời”. Nhân vật điển hình thường khái quát số phận và tính cách của một loại người, một tầng lớp hay một giai cấp trong một thời đại lịch sử nhất định.
VD: Nhân vật Chí Phèo là điển hình về số phận người nông dân bị bần cùng, tha hóa trong xã hội Việt Nam giai đoạn trước CMT8. Xuân Tóc Đỏ là nhân vật điển hình về tầng lớp tiểu tư sản thành thị Việt Nam đầu thế kỉ XX.
- Cũng có khi nhân vật điển hình khái quát một loại hiện tượng xã hội phổ biến trong đời sống tinh thần của một dân tộc ở thời điểm lịch sử cụ thể hoặc khái quát một loại tư tưởng, ý thức tồn tại phổ biến trong xã hội.
VD: Trong tác phẩm Đôi mắt, qua hai nhân vật Hoàng và Độ, nhà văn Nam Cao khám phá hai cách nhìn về người nông dân của tầng lớp trí thức đương thời. Nếu Độ tiêu biểu cho kiểu người trí thức có cách nhìn thân thiện, gần gũi, thấu hiểu và đồng cảm với người nông dân thì Hoàng lại là kiểu người trí thức khinh thường, xa lánh, nghi ngờ về khả năng làm cách mạng của người nông dân. Đôi mắt do đó là một truyện ngắn phát biểu quan niệm sáng tác của Nam Cao trong giai đoạn mới: người trí thức phải gắn bó với quần chúng và có cái nhìn đúng đắn về họ.
– Điển hình nghệ thuật là sự thống nhất cao độ, hoàn mĩ giữa tính khái quát tập trung và tính cá thể sinh động. Khi xây dựng hình tượng điển hình, nhà văn phải phát hiện những chi tiết cá biệt độc đáo, không lặp lại để làm nổi bật những nét, những tính cách quan trọng, những quan hệ tiêu biểu trong đời sống.
Vd 1: Nhân vật Chí Phèo được xem là điển hình về người nông dân Việt Nam trước cách mạng vì:
+ Chí Phèo có những nét cá biệt, độc đáo, không lẫn vào đâu được: Cái mặt đầy sẹo, cơn say triền miên, những cuộc rạch mặt ăn vạ, “mối tình” với Thị Nở, nỗi buồn khi tỉnh rượu và cuộc trả thù đẫm máu. Tính cách của Chí Phèo cũng có một không hai: Vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, vừa là con người khao khát yêu thương, vừa là công cụ nguy hiểm trong tay giai cấp thống trị, lại vừa là người nô lệ thức tỉnh, vừa là thằng cuồng, là gã mất trí, lại vừa là kẻ có khối óc sáng sủa nhất làng Vũ Đại khi Chí biết đặt ra những câu hỏi sắc sảo, vượt ra ngoài tầm khôn ngoan lọc lõi của Bá Kiến.
+ Song Chí Phèo cũng khái quát số phận tiêu biểu của người nông dân trước cách mạng: bị bọn Thực dân phong kiến bóc lột tàn nhẫn, bị đẩy vào con đường lưu manh hóa, tha hóa nhân hình lẫn nhân tính.
Vd 2: Điển hình văn học thế giới
- Văn học Trung Quốc có nhân vật AQ, điển hình 1 kiểu tính cách của người Trung Quốc mà nhà văn Lỗ Tấn đã vạch ra: bắt nạt kẻ yếu hơn mình song lại run sợ trước kẻ mạnh hơn mình về quyền lực địa vị, đặc biệt là luôn dùng “phép thắng lợi tinh thần” để ứng phó nghịch cảnh. Thực tế có thể bị thua cuộc, bị nhục mạ xúc phạm song trong tinh thần AQ luôn nghĩ mình chiến thắng. Anh ta tự thuyết phục bản thân rằng mình có tinh thần cao cả so với những kẻ áp bức mình ngay trong khi anh ta phải chịu đựng sự bạo ngược và áp bức của chúng..
- Văn học Pháp, trong tác phẩm Những người khốn khổ của Vích-to Huy- gô: Giăng Van- Giăng là điển hình cho kiểu người nhân hậu, cả cuộc đời theo đuổi triết lí tình thương. Bởi thế, Van- Giăng đã vì những đứa cháu của mình mà đi ăn cắp bánh mì để rồi chịu cảnh tù tội. Ông đã dành cả cuộc đời mình để bảo vệ những con người bất hạnh, yếu đuối trước nanh vuốt của kẻ xấu. Khi trút hơi thở cuối cùng, Van-Giăng cũng chỉ nhắn nhủ: “Trên đời này chỉ có một điều thôi, ấy là thương yêu nhau”. Còn Gia- ve là điển hình cho kiểu người chấp hành pháp luật mù quáng đến tàn ác, không có tình thương đồng loại. Thậm chí hắn còn nói nếu cha mẹ hắn mà phạm tội, hắn cũng bắt họ vào tù.
- Trong văn học Việt Nam thời trung đại, nhân vật chủ yếu là kiểu nhân vật loại hình, chức năng… Đến khi văn học hiện đại ra đời, những hình tượng điển hình nghệ thuật mới hiện lên đầy đặn, hoàn chỉnh, mang nội dung lịch sử cụ thể, sâu sắc. VD: Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ… là những nhân vật điển hình xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX đến CMT8-
→ Điển hình là kết quả của sáng tạo, kết tinh tài năng, kinh nghiệm nghệ thuật phong phú, vốn sống dồi dào, nhận thức sâu sắc của nghệ sĩ, bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, từ niềm tin vào cuộc sống và khát vọng hướng tới cái đẹp, cái thiện của quần chúng trong lịch sử. Do đó, điển hình luôn là hình tượng nghệ thuật bất tử.
II. Kỹ năng phân tích dẫn chứng về nhân vật trong truyện ngắn
Đối tượng của bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng: giá trị nội dung và nghệ thuật nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm hoặc các tác phẩm, các đoạn trích khác nhau. Như vậy, đối với các dạng đề khác nhau của dạng đề nghị luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi, người viết cần chọn dẫn chứng cho phù hợp với từng dạng đề.
- Với dạng đề nhân vật: Trong các tác phẩm văn xuôi, nhân vật là nơi nhà văn có thể biểu hiện tốt nhất, tập trung nhất quan niệm nghệ thuật của mình về thế giới và con người.
+ Nhân vật tập trung quan niệm của nhà văn trong tác phẩm.
+ Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời…
+ Nhân vật văn học có vai trò miêu tả và khái quát các loại tính cách xã hội.
+ Nhân vật văn học còn có chức năng tạo nên mối liên hệ trong tác phẩm.
Để làm rõ vai trò của nhân vật trong tác phẩm, người viết có thể chọn một hay nhiều khía cạnh sau đây để phân tích dẫn chứng là nhân vật trong tác phẩm văn xuôi:
Ngoại hình: Khi chọn dẫn chứng là các chi tiết về ngoại hình của nhân vật. Người viết cần phân tích dẫn chứng để làm rõ vai trò của việc xây dựng ngoại hình nhân vật trong tác phẩm
Ví dụ: Nam Cao đã miêu tả nhân vật Chí Phèo trong bộ dạng con quỷ dữ của làng Vũ Đại:
- Tái hiện dẫn chứng: Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!
- Ấn tượng và nhận xét: Dưới ngòi bút của Nam Cao chúng ta không thể nhận ra một anh tá điền chân chất thật thà của ngày xưa nữa. Thay vào đó là một ngoại hình rất hung tợn, đáng sợ. Sau khi ra tù, Chí Phèo hoàn toàn đổi khác.
- Cơ sở/ ý nghĩa của nhận xét, đánh giá:Từ việc xây dựng nhân vật Chí Phèo từ một người nông dân lương thiện trở thành một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Đó là dấu hiệu đầu tiên mà ai ai cũng dễ dàng nhận ra, sự thay đổi nhân hình. Nó là một dấu hiệu dự báo cho sự thay đổi một cách dữ dội bên
Lời nói: Lời nói là một yếu tố để xây dựng nhân vật, tạo tính cách cho nhân vật
VD: Trong truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng nhân vật Bá Kiến đầy những thâm sâu, mưu mô. Tất cả đã bộc lộ rất rõ nét qua lời nói của nhân vật này:
- Tái hiện lại lời nói của nhân vật: Anh Chí ơi! Sao anh lại làm thế?/ Khổ quá, giá có tôi ở nhà thì có đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau thế nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại thằng Lí Cường nóng tính, không nghĩ trước nghĩ sau. Ai chứ anh với nó còn có họ kia đấy.
- Ấn tượng và nhận xét: Lời nói của Bá Kiến nghe qua như mật ngọt bên tai, nó ẩn chứa bên trong là sự hiểu biết, tạm thời nhẫn nhịn để chờ thời cơ đến.
- Cơ sở/ ý nghĩa của lời nói trong việc xây dựng nhân vật: Nam Cao đã xây dựng một Bá Kiến đầy mưu mô, thủ đoạn. Chính những lời nói “êm tai” này góp phần đẩy Chí Phèo trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến.
Hành động: Mỗi tác phẩm sẽ có sự xuất hiện của các nhân vật khác nhau. Tùy vào kiểu nhân vật mà tác giả xây dựng: tâm lý, hành động mà hành động sẽ được thể hiện nhiều hay ít. Qua việc thể hiện các hành động, góp phần bộc lộ tính cách của các nhân vật trong mối quan hệ đối với các nhân vật khác.
VD: Những hành động Thị Nở quan tâm Chí Phèo:
- Táihiện dẫn chứng hành động: Thị Nở dìu hắn vào trong lều, đặt lên chõng, đắp chiếu cho hắn rồi ra về…Bát cháo hành của Thị Nở nấu cho Chí Phèo…vừa sáng thị đã chạy đi tìm gạo.
- Ấn tượng và nhận xét về hành động của nhân vật: Những việc mà Thị Nở làm tuy rất ngớ ngẩn với suy nghĩ của một con người dở hơi nhưng nó rất “người”. Đó là những hành động quan tâm của con người đối với con người.
- Cơ sở/ ý nghĩa của hành động nhân vật: Những việc làm của Thị đã làm sáng lên vẻ đẹp nhân tính tưởng như đã lu mờ của Chí Phèo. Chính những hành động đó giúp Chí Phèo tỉnh dậy sau những cơn say triền miên, đánh thức sự lương thiện trong Chí Phèo, khiến Chí muốn làm hòa với mọi người. Tác giả xây dựng một nhân vật xấu xí dở hơi như thế để bật lên một tình người – vẻ đẹp bất tử cần vun đắp cho dù là xã hội trước cách mạng tháng Tám hay xã hội nào.
Tâm lí nhân vật: Tâm lý nhân vật được tác giả thể hiện qua lời nói, hành động, nét mặt, và đối thoại nội tâm. Có những tác phẩm, tác giả chú trọng vào xây dựng tâm lý nhân vật. Tâm lý nhân vật là một quá trình diễn biến rất tinh vi, phức tạp.
VD: Quá trình nhận thức được mình bị Thị Nở từ chối, cũng từ đó Chí Phèo bị chối bỏ quyền làm người
- Tái hiện tâm lí nhân vật:Hắn thú vị, lắc lư cái đầu -> nghĩ ngợi một tí, bỗng nhiên ngẩn người-> thoáng cái hít hơi cháo hành -> ngồi ngẩn mặt, không nói gì-> Hắn sửng sốt, đứng lên gọi lại. Từ lúc Thị Nở gạt tay giúi thêm cho một cái. Hắn toan đập đầu rồi lại nghĩ: đập đầu ở đây chỉ có thiệt, đập đầu ở đây, để mà nằm ăn vạ ai? Hắn tự phải đến nhà con đĩ Nở kia, đâm chết cái con khọm già nhà nó… Và hắn uống, càng uống càng tỉnh. Tỉnh ra, chao ôi, buồn! thoang thoảng hương cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức
- Ấn tượng và nhận xét tâm lí nhân vật: Tận sâu bên trong của vẻ bề ngoài gớm ghiếc đó vẫn là một con người. Chí Phèo cũng khát khao được sống như bao người khác. Nhưng bây giờ không thể. Hắn nhận ra có uống rượu, rạch mặt cũng không để làm gì nữa. Giọt nước mắt đã rơi, giọt nước mắt rơi để giải tỏa nỗi lòng đau đớn của Chí và cũng là giọt nước mắt của lương tri, của sự thức tỉnh.
- Cơsở/ ý nghĩa của tâm lý nhân vật: Qua việc chuyển biến tâm lí của Chí Phèo chúng ta thấy được sự đau đớn, giằng co của con người bên trong Chí Phèo để chúng ta thấy được một Chí Phèo rất đáng thương nhưng phải sống trong bi kịch tha hóa và bi kịch bị từ chối quyền làm người.
Tương tự như vậy, đối với cốt truyện, hình ảnh, chi tiết điển hình, người viết cần tái hiện dẫn chứng cần để nghị luận. Sau đó nêu ra những ấn tượng và nhận xét chung nhất (về cả phương diện nghệ thuật và phương diện nội dung). Từ đó, người viết đánh giá giá trị, ý nghĩa của dẫn chứng đối với vấn đề cần nghị luận. Khi phân tích dẫn chứng cần đặt dẫn chứng đó trong chỉnh thể một tác phẩm.

