“Trong nghề văn khiêm tốn là một đức tính thừa!” – quan niệm này của Gabriel García Marquez, nhà văn Columbia giải Nobel 1982, đáng là châm ngôn của mọi người cầm bút. Trong quá trình học và đọc, luôn luôn có những bậc thầy cho ta ngưỡng mộ, kính phục, yêu mến. Nhưng khi bắt tay vào viết, ta phải luôn nghĩ ta là nhất, là hơn hết cả, là sẽ vượt lên trên các giá trị đã có, tạo lập những giá trị mới chưa từng có. Câu thơ Xuân Diệu nói cái cô đơn cá nhân có thể vận cho tâm thế sáng tạo: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta”.

Nghĩ được thế rồi, được nghĩ thế rồi, ta mới dám mạnh bạo phá tung mọi luật lệ văn chương ràng buộc níu trói chân tay, mới dám mở bung đầu óc tâm trí tìm đến những miền xa tưởng tượng, mới dám làm mới cho từng lời văn câu thơ. Ai bảo ta kiêu căng, mặc! Ai bảo ta hỗn hào, mặc! Ai bảo ta điên rồ, mặc! Đã rằng khiêm tốn nên gác ra ngoài khi một mình đối diện trang giấy, ta chỉ biết có ta trong cơn xúc cảm sáng tạo mà thôi. Trang giấy “pháp trường trắng” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) không cho phép ta hèn nhát chỉ nghĩ là mình cố viết sao cho bằng được cái đỉnh này, cái ngọn kia. Phải dũng cảm ở đây. Sự điên rồ của những người dũng cảm ở đây mới có thể tạo ra kiệt tác văn chương. Cái làng Macondo đã nảy nòi dưới ngòi bút G. G. Marquez chính là khi ngồi vào bàn viết ông đã xác quyết không chịu khiêm tốn với ai cả. Một trăm năm cô đơn, người mọc đuôi lợn, cả một cái làng bị thoái hóa…, đó là cái riêng, cái duy nhất của ông nhà văn Columbia này, trước ông văn học thế giới chưa có hình tượng nào như thế, nhờ ông Columbia trở thành một địa chỉ đỏ trên bản đồ văn học thế giới. Tôi lại muốn nhắc đến ở đây một câu nói nữa, lần này là của Dostoevsky: “Thưa quý vị, suốt đời tôi chỉ làm mỗi một việc, đó là đẩy tới tận cùng cái mà các vị chỉ dám làm một nửa”.

Muốn viết hay, vậy là, nhà văn còn cần phải có sự dũng cảm nữa. Dũng cảm để tìm đường mở lối. Dũng cảm để tự tin vào mình. Dũng cảm để chịu đựng những sự chưa hiểu, hiểu lầm, hiểu sai, cả những sự ác ý của người đời, khi tác phẩm mình xuất hiện. Bài học của Walt Whitman với tập thơ “Lá cỏ” đáng được đưa ra liên hệ ở đây. Năm 1855 khi tập Lá cỏ ra đời, một nhà phê bình ở thành phố Boston đã gọi ông là “một thằng rồ đáng đánh roi vì tội vi phạm thuần phong mỹ tục”. Ezra Pound nổi tiếng đương thời cũng không khá hơn khi nói đến Whiman: “Ông ta thật là tởm. Ông ta là một viên thuốc cực kỳ buồn nôn”. Các dịch giả Lá cỏ ra tiếng Việt (Vũ Cận và Đào Xuân Quý) cho biết số phận nguyên tác: “Tập thơ in ra một nghìn bản, chỉ tiêu thụ được non ba mươi bản. Mấy trăm bản gửi biếu hầu như chịu chung một số phận: hầu hết bị trả lại, nhiều khi kèm theo những lời xỉ vả thậm tệ đối với tác giả và tác phẩm. Có người trước khi gửi trả còn cẩn thận xé đôi cuốn sách để tác giả không thể còn hiểu lầm thái độ của mình”. Nếu W. Whitman không tự tin khi tung ra tập thơ và không dũng cảm chịu đựng những lời chỉ trích thì ông đã không thành một tác gia lớn của văn học Mỹ.

Nguồn: Phạm Xuân Nguyên, Điều kiện cần và đủ để có tác phẩm hay, Tạp chí Sông Hương, số 215 (01/2007).
Leave a Reply