I. TRI THỨC THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN

  1. Truyện ngắn

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường có dung lượng từ vài trang đến vài chục trang, ít nhân vật, sự kiện; câu chuyện diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian hạn chế. Tuy kể về một đoạn đời của nhân vật và trong một phạm vi hạn hẹp nhưng truyện ngắn vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn, thể hiện những triết lí nhân sinh sâu sắc.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học” truyện ngắn có những nét đặc trưng cơ bản như sau:

– Nội dung của truyện ngắn có thể bao quát nhiều phương diện đời sống khác nhau như đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó thường là ngắn.

(1) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 1992.

– Truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người.

– So với tiểu thuyết truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người.

Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý.

* Người kể chuyện toàn tri: Đây là điểm nhìn bên trên, điểm nhìn đằng sau, theo đó, người trần thuật có “cái nhìn của Thượng đế” đối với các nhân vật của mình. Ở trường hợp này, trong tương quan với các nhân vật, người trần thuật là người biết hết tất cả mọi sự, vì các nhân vật không thể che giấu điều gì. Đó là người kể chuyện toàn tri (omniscient), thông suốt mọi việc, hiểu biết mọi sự.

Đặc biệt, khả năng này cho phép người trần thuật tiếp cận đời sống nội tâm và những động cơ sâu xa của các nhân vật mà ngay chính nhân vật cũng không hay biết. Dẫn chứng tiêu biểu nhất là những tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa và tự nhiên chủ nghĩa của Honoré de Balzac, Stendhal, Émile Zola, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,… Khi có điểm nhìn bên trên, điểm nhìn đằng sau, dù nhân vật tìm cách che giấu đi, thì người trần thuật vẫn hiểu biết về nhân vật nhiều hơn nhân vật hiểu biết về chính nó.

Trong điểm nhìn toàn trị, câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba như một người tường thuật những hiểu biết và đặc quyền của người ấy không bị giới hạn. Ở đây, người kể chuyện được tự do tham dự vào bất cứ chỗ nào mà họ muốn, họ soi xét kỹ vào bên trong tâm hồn và trái tim của nhân vật và kể cho chúng ta điều mà họ đang suy nghĩ hay cảm thấy. Họ có thể thể hiện thái độ và bình luận về ý nghĩa trong những truyện kể của họ. Họ có thể kể cho chúng ta nhiều hay ít tùy ý họ. Cần chú ý rằng trong đó người trần thuật kể lại không chỉ nhân vật làm và nói cái gì mà còn cả điều họ nghĩ và cảm thấy, cũng như đưa ra lời nhận xét về diễn tiến của câu chuyện.

Điểm nhìn toàn tri là điểm nhìn linh hoạt nhất và được thừa nhận trong phạm vi rộng rãi nhất. Tuy nhiên, nó cũng là đối tượng có thể bị lạm dụng. Một mặt, nếu sử dụng một cách khéo léo, nó sẽ tạo ra tính mạch lạc, chiều rộng lẫn chiều sâu tự sự. Mặt khác, nếu sử dụng một cách đơn điệu, nó có thể phá hủy ảo tưởng về thực tế mà nhà văn nỗ lục sáng tạo.

* Điểm nhìn bên trong (đioeẻm nhìn nội quan): Đây là điểm nhìn bên trong một nhân vật, nơi xuất phát để người trần thuật kể chuyện thông qua những gì mà nhân vật hiểu biết và nhận thấy. Trong điểm nhìn nội quan, tác giả hàm ẩn hòa mình vào trong nhân vật – người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Ở đây, có sự hạn chế về trường nhìn: người trần thuật chỉ thấy những gì mà nhân vật thấy, nó không nói quá phạm vi đó. Bút pháp gián tiếp tự do là một trong những phương tiện giúp cho người đọc nhận ra cái nhìn của nhân vật. Độc thoại nội tâm là một thủ pháp gắn liền với điểm nhìn này. Có thể dẫn chứng điều này từ những tác phẩm của Marcel Proust, Franz Kafka, James Joyce, Nathalie Sarraute, Thanh Tâm Tuyền, Hoàng Ngọc Biên, Bảo Ninh,… Nói vắn tắt, với điểm nhìn nội quan, cái biết của người trần thuật trùng với cái biết của nhân vật.

Điểm nhìn nội quan có ưu điểm là tạo ra cơ hội để đào sâu và khai thác thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật. Tuy nhiên, do hạn chế về trường nhìn, nó không thể phản ánh toàn cảnh bức tranh xã hội và môi trường hoạt động của các nhân vật.

* Điểm nhìn bên ngoài (tiêu cự ngoại quan- focalisation externe). Đây là cái nhìn bên ngoài, từ đó, người trần thuật đề cập đến những gì mà người ấy có thể quan sát từ bên ngoài qua hành vi của các nhân vật mà không bình luận, giải thích hay đi vào thế giới nội tâm của nhân vật. Có thể xem đó là những truyện kể có tính chất hành vi luận (behaviourism), trong đó, người trần thuật biết về các nhân vật ít hơn là các nhân vật biết về chính nó, vì vậy, mọi sự phân tích tư tưởng và tình cảm của nhân vật hầu như bị loại trừ trong văn bản. Một số tác phẩm của Ernest Hemingway là dẫn chứng tiêu biểu cho điểm nhìn này, theo đó, sự hiểu biết của người kể chuyện có phạm vi hạn hẹp hơn sự hiểu biết của nhân vật về chính nó. Độc giả chỉ nhìn thấy những gì mà nhân vật làm và nói, và phải tự phỏng đoán cái gì nhân vật nghĩ, cảm thấy và ưa thích. Tác giả không giải thích điều đó. Chẳng hạn, trong tác phẩm Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber, E. Hemingway chỉ cung cấp thông tin về bề ngoài của các nhân vật thông qua đối thoại và hành động mà không cần bình luận thêm hay đánh giá.

=> Mỗi một điểm nhìn nói trên có những thuận lợi, những hạn chế và cách sử dụng riêng biệt của nó. Việc lựa chọn điểm nhìn của tác giả phụ thuộc vào chất liệu và mục đích của một truyện kể. Tuy nhiên, ranh giới giữa ba điểm nhìn trên không phải là tuyệt đối. Các điểm nhìn có thể đan cài vào nhau, tác động lẫn nhau và những phân tích của người trần thuật có thể bổ sung cho những giới hạn về trường nhìn, chẳng hạn trong tiểu thuyết của Stendhal, F. Dostoievski,…

* Người kể chuyện

Một hành vi kể chuyện bao hàm ba nhân tố chủ yếu, đó là người kể chuyện hay người trần thuật tức là người nói, người viết; nhân vật tức là người được nói đến; người đọc hay người nghe tức là người mà người kể chuyện muốn nói với, muốn chia sẻ.

Hình ảnh người kể chuyện (hay người trần thuật) thường là một hình ảnh kép: có một người đang đứng ra thuật lại một câu chuyện và gắn liền với người đó là một chủ thể phát ngôn nhất định. Khi người kể chuyện được biểu lộ trong văn bản, cần phải giả định sự hiện hữu của một tác giả hàm ẩn (implied author) trong văn bản đó. Đây là người tác động đến hành vi kể chuyện và trong bất cứ trường hợp nào cũng không được lẫn lộn với nhân thân của tác giả bằng xương bằng thịt, như một số nhà phê bình tâm lý học đã lẫn lộn. Nói cách khác, không nên đồng nhất tác giả, tức con người nhà văn ngoài đời, với tác giả hàm ẩn vốn chỉ hiện diện trong văn bản. Tác giả hàm ẩn là người tổ chức văn bản, người chịu trách nhiệm về sự hiện diện hay vắng mặt của một nhân vật hay một thành phần câu chuyện nào đó. Trình bày quan niệm của Wayne Booth về vấn đề này, Cao Kim Lan giải thích: “Tác giả hàm ẩn chính là kẻ sáng tạo giấu mặt, người điều khiển, chỉ phối mọi hoạt động, tùng nhân tố nhỏ nhất trong văn bản tác phẩm và cũng là người hướng dẫn giải mã văn bản tác phẩm”(2).

Sự phân biệt tác giả hàm ẩn với người kể chuyện giúp ta nhận ra giữa tác giả và thế giới nghệ thuật của văn bản có những mối trung gian tinh tế. Sở dĩ không nên đồng nhất tác giả hàm ẩn với người kế chuyện là vì trong đa số trường hợp, người kể chuyện có vai trò riêng không thể xóa nhòa. Vai trò đó có thể thay đổi từ một văn bản này đến văn bản khác: người kể chuyện có thể là một trong những nhân vật chính như trong truyện kể ở ngôi thứ nhất hay là người đưa ra những nhận xét về giá trị từ góc độ của mình và điều này có thể trái với nhận xét của tác giả hàm ẩn đứng ở một góc độ khác.

Tương ứng với tác giả hàm ẩn là độc giả hàm ẩn (implied reader), được hiểu như hình tượng người đọc mà nhà văn hình dung ra và cảm thấy như đang có mặt trong diễn trình của câu chuyện. Không nên nhầm lẫn người đọc cụ thể, có thực ngoài đời với khái niệm “độc giả hàm ẩn” là “người đọc” giữ một vai trò trong văn bản. Người đọc có thực ngoài đời có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận vai trò này, có thể đồng ý hoặc không đồng ý với những phán đoán về giá trị được hàm chứa trong văn bản đối với những biến cố hay nhân vật. Trong văn xuôi hư cấu, có lúc hình ảnh người kể chuyện và hình ảnh nhân vật đứng bên cạnh nhau, lại có lúc hình ảnh người kể chuyện và hình ảnh người đọc hàm ẩn liên kết và đối thoại với nhau.

Trong văn bản, những yếu tố tác giả hàm ẩn, người kể chuyện, các nhân vật, độc giả hàm ẩn có quan hệ với nhau một cách đa dạng, tạo thành một phức thể nghệ thuật và cùng bị chi phối bởi điểm nhìn trần thuật.

* Câu chuyện và truyện kể

Mối quan hệ giữa câu chuyện và truyện kể với những biến hóa của nó là nguồn cảm hứng lý thuyết của thi pháp học thế kỷ XX. Khoa tự sự học (narratologie) có thể được xem là lý thuyết về truyện k (théorie du récit).

Theo các nhà hình thức luận Nga, cần phân biệt câu chuyện vi truyện kể. B. Tomashevski cho rằng, câu chuyện (fabula/ story) là chấn liệu thô thuộc giai đoạn tiền thẩm mỹ, chưa qua bàn tay nhào luyện của nhà văn; còn truyện kể là một sản phẩm tinh thần có tính nghệ thuật thuộc giai đoạn thẩm mỹ. Cơ sở của câu chuyện là tích truyện, còn cơ sở của truyện kể là cốt truyện (sjuzhet/ plot). Tích truyện dựa trên trật tự biên niên hay trật tự nhân quả của các biến cố xảy ra theo thú tự trước sau của thời gian; còn cốt truyện gắn liền với trình tự xuất hiện các biến cố trong văn bản do chính nhà văn sắp xếp. Tích truyện đi theo tuyến hành động, nó có thể chính là bản thân hành động; còn cốt truyện đi theo tuyến trần thuật, nó là cách thức mà nhà văn cho người đọc biết về hành động. Như vậy, cần phân biệt thời gian của câu chuyện hay tích truyện như là đối tượng miêu tả với thời gian trần thuật tức thời gian của truyện kể hay cốt truyện như là nghệ thuật miêu tả.

  1. Chiến lược đọc hiểu văn bản truyện ngắn hiện đại

– Đọc văn bản, nhận diện được câu chuyện (chi tiết, sự kiện, diễn biến), hệ thống nhân vật.

– Xác định, phân tích các yếu tố nổi bật như nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, sự kiện, tình huống truyện.

– Kết nối các nội dung đã phân tích, suy nghĩ về ý nghĩa của tác phẩm.

– Nhận diện, đánh giá người kể chuyện ngôi thứ 3 (người kể chuyện toàn tri) hoặc người kể chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện hạn tri).

– Liên hệ, kết nối kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân để hiểu những vấn đề được đặt ra trong truyện ngắn và rút ra bài học.

  1. Tác giả

– Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977) là một trong những tác giả đặt nền móng cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại và là cây bút truyện ngắn trào phúng tài năng. Ông là nhà văn có tư tưởng yêu nước. Bằng tiếng cười trào phúng đậm chất hiện thực, Nguyễn Công Hoan đã dũng cảm phơi bày, tố cáo, đả kích mạnh mẽ xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám với những bất công ngang trái, phi đạo lí. Sự nhạy cảm trước những mảng tối của xã hội đương thời kết hợp với biệt tài tạo dựng tình huống, dựng cảnh cùng ngôn ngữ phong phú, sinh động, giàu chất sống đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Công Hoan.

– Tô Hoài (1920 – 2014) tên thật là Nguyễn Sen, sinh ra và lớn lên trong một gia đình thợ thủ công nghèo tại quê ngoại – làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội). Sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của Tô Hoài tập trung vào hai  mảng để tài lớn: truyện viết về những người lao động nghèo và truyện viết cho thiếu nhi. Với cảm quan hiện thực đời thường, sự quan sát tinh tế, nghệ thuật kể chuyện điêu luyện, có duyên, Tô Hoài đã khắc ghi trong tâm hồn độc giả những cảnh sinh hoạt, những tập tục quen thuộc của từng vùng quê, từng gia đình.

II. TRI THỨC THỂ LOẠI TRUYỆN CỰC NGẮN

  1. Truyện cực ngắn

Truyện cực ngắn (còn gọi là truyện tuyệt ngắn, truyện mini, truyện chớp, truyện nhanh, truyện bỏ túi, truyện nắm tay, truyện dài bằng hơi khói,…) là loại truyện mà dung lượng tối đa chỉ khoảng một đôi trang, vài trăm chữ, thậm chí ngắn đến mức không thể rút gọn.

Truyện cực ngắn không phải là truyện rút gọn mà là truyện được dồn nén, gạt bỏ mọi yếu tố thừa. Dù rất ngắn (có khi chỉ một câu văn) nhưng đó vẫn là truyện, có các yếu tố của truyện (nhân vật, kịch tính, chuyển biến truyện và kết thúc truyện; có nội dung tư tưởng, triết lí,…). Do dung lượng tác phẩm, truyện cực ngắn rất ít nhân vật, sự kiện, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể kể về cả cuộc đời hoặc một đoạn đời,… nhưng trong phạm vi hẹp. Tính chất giản thiểu của truyện cực ngắn khiến cho tính kịch của truyện cao, không gian thời gian thường có tính chất “tam duy nhất” như những tác phẩm bi kịch cổ điển (chỉ tại một nơi, một ngày, một hành động trọn vẹn).

Cũng như thơ Hai-cư của Nhật và tranh thuỷ mặc phương Đông, truyện cực ngắn có tính hàm súc, có khả năng khơi gợi cao. Cái hay của truyện cực ngắn không chỉ ở chỗ nó tả mà cơ bản là ở chỗ nó gợi ra. Nhiều truyện cực ngắn có tính đa nghĩa, “ý tại ngôn ngoại” mở ra nhiều chiều nội dung, nghệ thuật do cách đọc liên văn bản đem lại. Người đọc, tuỳ thuộc vào trình độ, vốn sống, khiếu thẩm mĩ,… có thể nhận ra nhiều vấn đề lớn lao, tư tưởng nhân sinh sâu sắc trong tác phẩm.

  1. Chiến lược đọc hiểu văn bản truyện cực ngắn

– Đọc kĩ tác phẩm, không bỏ sót dù chỉ một từ.

– Tìm hiểu nhân vật chính, tình tiết, tình huống, thời gian, không gian. – Xác định nghĩa bề nổi của văn bản.

– Đọc liền văn bản để cảm hiểu các tầng sâu ý nghĩa và đa nghĩa của truyện.

  1. Tác giả

– Lâm Thanh Huyền (1953 – 2019) là nhà văn, nhà thơ, học giả nổi tiếng người Đài Loan. Năm 1988, Lâm Thanh Huyền được ngành xuất bản Đài Loan chọn là nhân vật của năm. Các tác phẩm của ông thường mang hơi hướng của Phật giáo, với những triết lí nhân sinh sâu sắc như Nơi đâu là tịnh độ, Tâm bình an, Triết học và Thần học phương Đông.

– Franz Kafka (1883 – 1924) – người gốc Do Thái. Ông là một nhà văn lớn chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Đức. Franz Kafka được đánh giá là một trong những tác giả có tầm ảnh hưởng nhất thế kỉ XX. Các tác phẩm nổi tiếng của ông là: Hoá thân, Lâu đài, Vụ án,…

− Nhật Chiêu (họ tên đầy đủ là Phan Nhật Chiêu) sinh năm 1951 tại Sài Gòn. Ông là giảng viên Khoa Văn học và ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhật Chiêu là chuyên gia hàng đầu về văn học Nhật Bản, văn học phương Đông. Phan Nhật Chiêu đồng thời là nhà văn, dịch giả, học giả có uy tín lớn trong văn giới đương đại ở Việt Nam. Bên cạnh các công trình dịch thuật, nghiên cứu phê bình, Nhật Chiêu còn có nhiều tác phẩm văn chương: Người ăn gió và quả chuông bay đi (tập truyện ngắn), Lời tiên tri của giọt sương (tập truyện song ngữ Việt – Anh), Tôi là một kẻ khác (tập thơ),…

III. TRI THỨC THỂ LOẠI TRUYỆN KÝ

  1. Truyện kí

Kí có nhiều loại: kí tự sự, kí trữ tình, kí chính luận,… Truyện kí nằm trong loại kí tự sự (phóng sự, kí sự, hồi kí, truyện kí,…). Truyện kí có cả hai tính chất: truyện và kí. Truyện: có nhân vật, có câu chuyện được kể. Kí: có tính chất xác thực. Tác phẩm kí thường không hư cấu, tác giả chỉ lựa chọn những sự việc, con người có giá trị nổi bật trong cuộc sống để sáng tác. Tác phẩm kể về những điều nhân vật “tôi” mắt thấy, tai nghe hoặc tự mình tìm hiểu, nghiên cứu tường tận. Tác giả thường có những cách nói khẳng định chủ thể như: tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ, tôi khẳng định,… Kí là nơi người viết bộc lộ trực diện, rõ ràng về cá nhân mình.

  1. Chiến lược đọc hiểu văn bản truyện kí

– Đọc, nhận diện câu chuyện, nhân vật, sự thay đổi điểm nhìn, sự nối kết giữa lời người kể chuyện, lời nhân vật,…

– Chú ý nhân vật “tôi”. Đây là kiểu nhân vật kể chuyện ngôi thứ nhất, có tính đặc trưng của thể loại kí, truyện kí.

– Phát hiện, đánh giá những yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong tác phẩm, chỉ ra tác dụng của những yếu tố này, đặc biệt là dụng ý của việc sáng tạo yếu tố hư cấu trong việc thể hiện ý nghĩa, tư tưởng của văn bản.

– Sử dụng các tài liệu, công cụ tra cứu để hiểu rõ hơn về các thông tin khách quan, những hiện thực cuộc sống (phi hư cấu) được tác giả tái hiện, mô tả trong văn bản.

– Suy nghĩ, luận giải tư tưởng, tình cảm của tác giả đối với những điều được kể.

– Liên hệ, kết nối thực tiễn của cuộc sống để hiểu rõ hơn về giá trị của các tác phẩm truyện kí và vận dụng những bài học hữu ích cho bản thân.

  1. Tác giả

Lê Quýnh (1750 – 1805) quê ở Bắc Ninh. Ông là vô quan đại thần và là trung thần của vua Lê Chiêu Thống Năm 1789, khí Tây Sơn ra Bắc, vua hệ Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc. Lê Quýnh được Tổng đốc Quảng Tây là Phúc Khang An mới sang Bắc quốc củng năm. Tại Trung Quốc, nhà Thanh ép vua Lê Chiêu Thống và các bé tôi tổng vong của ông phải cắt tóc, gọt đầu, thay đổi y phục theo Mãn Thanh. Tuy nhiên, Lê Quýnh và một số bạn hữu của ông đã nhất quyết chống lại. Lê Quýnh tuyên bố: “Chúng ta đấy dầu có thể chặt, tóc không thể cắt; da có thể lột, đồ mặc không thể đói” (Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái, hồi 15).

– Henry David Thoreau (1817 – 1862) là một nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học, nhà triết học, nhà địa hình học mẫu mực người Mỹ. Ông tốt nghiệp Trường Đại học Harvard danh tiếng thế giới. Tuy nhiên, sau tốt nghiệp, ông đã một mình bỏ vào khu núi rừng bên cạnh hồ Walden – nơi không có người cư trú và dựng một cái lều bên hồ, sống bằng cách trồng đậu, khoai tây, củ cải, ngô. Từ thực nghiệm của chính mình, Henry D.Thoreau muốn gửi đi những thông điệp tốt đẹp về ý nghĩa của cuộc sống đơn giản, gần gũi và hoà hợp với thiên nhiên.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo

0918926541