Trong hành trình sáng tạo , mỗi nhà văn đều đi qua miền ký ức hồn nhiên, trong trẻo của tuổi thơ, nơi những rung động đầu đời âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn và khơi nguồn cho mọi cảm hứng văn chương về sau. Bảo tàng Văn học Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết “Thư gửi thế giới cảm xúc hồn nhiên” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đây không chỉ là những trang hồi ức về tuổi thơ mà còn là lời nhắn gửi của người cầm bút từng trải tới các thế hệ mai sau.
“Ngày xưa đi học, vào lớp 6, lớp 7 bây giờ, những bài luận của tôi ở nhà trường thường được thầy phê “nhiều ý tưởng nhưng rặt lỗi văn phạm và chẳng bao giờ dùng từ chính xác cả!” Là bởi vì vốn tiếng Pháp của tôi mới được một dúm mà nghĩ gì là tôi viết ra.
Hình như bây giờ ở nhà trường các em ít phải học thuộc lòng hơn chúng tôi ngày xưa. Với tôi ngày nhỏ, môn học thuộc lòng là cả một cái tội nợ nhưng bây giờ nghĩ lại, nó cũng để lại lâu dài trong người mình một cái gì. Có thể là một câu văn hay, tả cảnh hoặc nói về một cảnh ngộ đời người đã in sâu vào óc, muốn quên đi cũng không quên được. Cũng có thể nó chẳng để lại về lâu dài một điều gì cả nhưng ngay lúc bấy giờ, khi vừa đọc xong, nó gợi tôi nhớ đến mẹ, hoặc chợt nghĩ đến một cái giếng nhà ai đó, hoặc một cảm giác thương người, đầy mơ hồ. Có một lần, thật quái quỷ, không phải một bài học thuộc lòng mà đọc xong một cuốn sách, tự nhiên tôi nảy ra cái quyết tâm…trở thành nhà văn. Các em cứ tin đi tôi không bịa đâu. Hình như lần ấy tôi đang học lớp Ba (ngày bấy giờ gọi là lớp Nhì năm thứ hai) tôi đọc xong một cái truyện người ta viết cho trẻ con của Nhà xuất bản Phổ thông bán nguyệt san, tôi thấy thú quá: “A, tưởng gì, loại truyện như thế này mình có thể viết hàng pho!” Tôi ngồi viết liền một mạch 50 trang vở học trò, đặt cho nó một cái tên, rồi cuộn tròn lại, để hở hai đầu, đề địa chỉ Nhà xuất bản Phổ thông bán nguyệt san ở Hà Nội. Tôi đi bộ 7 cây số từ nhà lên nhà giây thép của phố huyện. Khe cái hộp thư bằng sắt hẹp quá. Cố gắng mãi tôi không sao đút cuộn giấy vào lọt. Ông lão nhân viên nhà giây thép tưởng “thằng nhóc” đang giở trò nghịch, chạy ra. Giá chui xuống đất được thì tôi đã chui quách. Nhưng rồi cũng xong. Tôi cũng gửi cái “tác phẩm văn học đầu tay” của mình đi được nhưng phải mua thêm tem dán vào. Thằng bé ôm cái bụng rỗng lại đi bộ 7 cây số về nhà ngồi đợi thêm một tuần, một tháng, rồi một năm chẳng thấy gì hết. Chắc hẳn ông lão nhà giây thép phố huyện tôi – người duy nhất biết cái chuyện điên rồ của tôi hồi nhỏ – đã chết từ lâu.
Ấy vậy mà sau cái chuyến ấy tôi vẫn không… “chừa” cái quyết tâm trở thành nhà văn. Nói như vậy với các em cho vui thôi, chứ thuở bé tôi cũng không phải hạng có chí lớn gì đâu! Thật tình tôi chỉ muốn diễn tả những cái gì ở chung quanh mình – mà tôi mang đấy ắp trong lòng những cảm xúc về chúng. Trước khi kể sang “tác phẩm” thứ hai (vẫn như số phận cái trước) tôi muốn nói với các em điều này. Trong mỗi con người các em đang lưu trữ một kho báu mà chính các nhà văn lớn của nền văn học hiện đại trên thế giới đang đi tìm. Đó là cái khả năng cảm xúc hồn nhiên, nguyên sơ của tâm hồn loài người. Và bất cứ một người nào trong các nhà văn lớn tuổi chúng tôi nếu đánh mất hết cái khả năng ấy thì không những trang viết trở nên cằn cỗi cứ trơ ra như một tấm chăn dạ hết tuyết, chỉ còn cách bỏ bút, bỏ nghề.
Ngày nhỏ tôi là một đứa trẻ dút dát. Trong gia đình tôi là con út, cho nên cũng được gia đình thương nhất. Nhất là mẹ tôi. Mỗi buổi sáng tôi đi học, mẹ tôi dậy từ tờ mờ đất, thổi cơm cho tôi ăn, gói vào chiếc mo cau một gói cơm nắm để tôi ăn trưa ở trường. Rồi để tránh lũ trẻ chăn bò lớn tuổi hơn tôi dọc đường ăn hiếp, mẹ tôi đưa tôi đi một quãng. Lên lớp nhất, cuối năm phải thi tốt nghiệp tiểu học, mẹ tôi tìm một nhà ở gần trường gửi gạo cho tôi ăn trọ. Từ nhà tôi tới trường tiểu học huyện 5 cây số. Từ đó tôi ở trọ, mỗi chiều thứ bảy mới về nhà.
Lần đó tôi nghe tin mẹ tôi ở nhà ốm, do người đi chợ huyện bán cá biển bảo cho tôi biết. Lập tức tan buổi học chiều xong, chả kịp về nhà trọ ăn uống gì cả, tôi chạy thẳng một mạch 5 cây số về nhà. Vừa thoạt về đến cổng suýt nữa tôi khóc oà lên – vì tự nhiên tôi nghĩ mẹ tôi chết. Tự nhiên tôi nghĩ thế thôi, chả hiểu vì duyên cớ sao – tôi tin là mẹ tôi chết thật rồi. Lòng chợt nặng trĩu bởi một nỗi thống khổ ghê gớm, tôi chạy qua cổng ngõ lao vào sân, tự nhiên thấy trời đất chung quanh mình sao mà cứ trống hoắc mãi ra. Có lẽ tôi cũng không thể sống nổi, nếu không có mẹ?
Nhưng mẹ tôi cũng chẳng việc gì cả. Mẹ tôi chỉ ốm xoàng nằm mất mấy ngày, bây giờ đã dậy làm lụng được. Mẹ tôi đang đứng choãi chân, giang hai tay rút rơm ở bên cây rơm sau bếp…Mẹ tôi ngoảnh lại, thấy tôi tự nhiên trở về nhà giữa tuần, mắt lại đỏ hoa, lấy làm lo lắng, hãi sợ vô cùng. Sao lại về hả con? Có việc gì vậy? Sao lại khóc? Chúng nó đánh con ở đâu. Có chỗ nào sưng tím không?
Mẹ tôi vội vã chạy đi kiếm cái bát để giã gừng bóp vết thương cho tôi. Tôi bảo không ai đánh tôi cả. Cuối cùng tôi phải gắt lên. Đến khổ, mẹ tôi vẫn bắt tôi cởi áo ra.
Ăn cơm xong, trời đã tối. May quá, thế là mẹ tôi vẫn còn sống, không có việc gì xảy ra, nhưng mà sao tôi thấy chung quanh mình trời đất vẫn cứ trống huyếch trống hoác thế nào ấy. Tôi vẫn cứ thấy áy náy như vừa đánh mất một vật gì chưa tìm thấy. Trên vòm trời đen mượt, sau mái nhà bếp mà tôi đã nhìn thấy từ khi còn ẵm ngửa, những ngôi sao cũng như đang ngơ ngác.
Thế rồi bất ngờ tôi vùng chạy ra sau nhà bếp: Đến lúc bấy giờ tôi mới biết cái cây sung cổ thụ mọc bên đất nhà hàng xóm những nằm ngay bên chân cây rơm nhà tôi, người ta đã hạ xuống để xẻ ván.
Thì ra vậy, vòm trời sau mái bếp nhà tôi chợt trở nên trống trải vì không còn cái khoảng cành lá xanh um tùm của cây sung bên nhà hàng xóm che phủ.
Sáng hôm sau, mẹ tôi lại dậy từ tờ mờ đất để thôi cơm bằng một thứ lửa rơm cháy bùng bùng trong không gian bếp. Cái hình dáng mẹ tôi ngồi hiện ra như một cái hình cắt giữa đám cháy. Những ngày sau, ở nhà trọ, tôi cứ nghĩ mông lung về mẹ tôi, về trận ốm của Người, về cây sung sau nhà mà tôi thường trèo hái quả và cái khoảng trống mà nó đã để lại sau cái mái bếp của nhà tôi. Đấy là tất cả đầu đuôi thiên truyện thứ hai tôi đã viết ở nhà ông chủ trọ, lúc này tôi 12 tuổi. Thật ra tôi cũng không thể nhớ tôi đã viết những điều tôi vừa kể với các em ra sao” Tôi cứ ước ao bấy giờ tôi được đọc lại? Cái truyện viết xong, tôi không gửi đi, mà đánh mất.
Nhưng các em ạ, thế giới vật chất chỉ biến hoá mà chả có cái gì mất đi cả. Trong một truyện ngắn hay của một cuốn tiểu thuyết nào đó của tôi – in ra được nhiều năm rồi tự nhiên tôi mới chợt nhận thấy dấu tích của câu truyện trên. Nó “ đầu thai” cho những trang viết trong đời viết văn của tôi bấy giờ theo một lối ngõ nào đó mà hai cánh cửa luôn kêu kẽo kẹt, hết đóng lại mở trong tiềm thức. Và trong đời viết văn xuôi của tôi, chắc hẳn có không ít truyện chỉ là sự thức dậy của thế giới cảm xúc thời thơ ấu.
Tôi viết mấy trang này, cho các em như viết một bức thư cho thế giới cảm xúc hồn nhiên – cho cái miếng đất sét vẫn còn dính ướt mà chỉ cần một ngón tay đặt hờ lên đã nằm xuống từ đường vân tay rõ rệt. Trước khi bắt tay thân thiết từng em, tôi lại xin nhắc lại: Các em đang cất giữ ngay trong tâm hồn mình một kho báu vô tận mà các nhà văn cứ nơm nớp sợ đánh mất”.
Bảo tàng Văn học Việt Nam
Leave a Reply