I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
NGÔI NHÀ CỦA MẸ
Chiếc vé tàu cũng hồi hộp như con
Khi con về với mẹ
Con lại ngồi vào chiếc chõng tre xưa
Nơi mẹ vẫn ngồi khâu cha thường chẻ lạt
Bao xa cách lấp bằng trong chốc lá
Trăm cánh rừng về dưới giọt ranh thưa
Xin mẹ lại cho con bắt đầu đi gánh nước
Gánh bao nhiêu trong mát để dành
Xin mẹ lại cho con nấu bữa cơm mà không cần giấu khói
Để con được cảm ơn ngọn lửa nhà ta
Ngọn lửa biết thay con tìm lời an ủi mẹ
Vẫn chiếc dây phơi buộc ở đuôi kèo
Vẫn ở đó giờ cao hơn với mẹ
Con phơi áo nghe hai đầu dây kể
Thương quá những khi mưa con trai mẹ vắng nhà
Chiến tranh đi qua mẹ con mình
Hàng gạch lún giữa sân cơn mưa còn đọng nước
Hôm nay con trở về nhà
Chiếc vó nhện trên tường cũ vô cùng thân thuộc
Với một người từng chịu nỗi cách xa
Họ chỉ cần đi ngược con đường đã làm nên xa cách
Là có thể về với mẹ được ngay
Nhưng với một người lính như con
Muốn gặp mẹ phải vượt lên phía trước
Phải lách qua từng bước hiểm nghèo
Ở trên đó bất ngờ con gặp mẹ
Như con đang gặp mẹ bây giờ
Bước chân con chưa kín mảnh sân nhà
Phía biên giới lại những ngày súng nổ
Ngôi nhà mẹ là chiếc ga bé nhỏ
Chúng con đến và đi trong suốt cuộc đời mình.
(Ngôi nhà của mẹ, Hữu Thỉnh, https://www.thivien.net)
* Chú thích: Hữu Thỉnh sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942 tại Phú Vinh, Duy Phiên, Tam Đảo (Tam Dương), Vĩnh Phúc. Hữu Thỉnh là người từng trải, viết nhiều, thường viết về con người và cuộc sống của người nông dân. Thơ ông giàu chất thơ, tuy giản dị nhưng vô cùng nhạy cảm và sâu lắng.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Nêu thể thơ được sử dung trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những hình ảnh gần gũi, thân thuộc nơi “ngôi nhà của mẹ” mà người con đã bồi hồi bắt gặp khi trở lại trong 4 câu thơ sau:
Chiếc vé tàu cũng hồi hộp như con
Khi con về với mẹ
Con lại ngồi vào chiếc chõng tre xưa
Nơi mẹ vẫn ngồi khâu cha thường chẻ lạt
Câu 3. Nêu khó khăn của người lính phải trải qua để gặp lại đươc mẹ.
Nhưng với một người lính như con
Muốn gặp mẹ phải vượt lên phía trước
Câu 4. Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá trong câu sau:
Chiếc vé tàu cũng hồi hộp như con
Khi con về với mẹ.
Câu 5. Trình bày thông điệp ý nghĩa nhất đối với anh/chị rút ra qua bài thơ trên (khoảng 5-7 dòng).
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận của anh/chị về hình ảnh trong văn bản thơ ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm):
Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ của bản thân về câu nói: “Tôi đã khóc khi không có giày để đi, cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giày” (Hellen Keller)
ĐÁP ÁN
ĐỌC HIỂU
1 – Văn bản được viết theo thể thơ tự do
Hướng dẫn chấm:
– HS trả lời như đáp án: 0,5 điểm
– HS trả lời không đúng như đáp án không cho điểm
2 – Những hình ảnh gần gũi, thân thuộc nơi ngôi nhà của mẹ mà người con đã bồi hồi bắt gặp trong những ngày trở lại:
+ chiếc chõng tre,
+ hình ảnh mẹ ngồi khâu
Hướng dẫn chấm:
– HS trả lời 2 hình ảnh đúng như đáp án: 0,5 điểm
– HS trả lời được 1 hình ảnh đúng: 0,25 điểm
– HS trả lời không đúng như đáp án không cho điểm
3 – Qua hai câu thơ ta thấy hình ảnh người lính trên chiến trường luôn phải đối diện với mưa bom bão đạn; cái chết rình rập chỉ trong gang tấc. Bởi vậy nên, muốn được gặp mẹ, tức là muốn được trở về bên mẹ, bên gia đình thân yêu, họ chỉ có một cách duy nhất là vượt lên trên những gian khổ, hi sinh trong chiến đấu.
Hướng dẫn chấm:
-HS trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm
– HS Trả lời tương đương như đáp án được 1/2 số ý: 0,5 điểm
– HS trả lời không đúng như đáp án không cho điểm
– HS có cách diễn đạt tương đương đạt điểm tối đa.
4 – Biện pháp: Nhân hóa: chiếc vé tàu hồi hộp
– Tác dụng:
+ Làm câu thơ hấp dẫn, sinh động hơn, giàu giá trị biểu cảm
+ Hình ảnh chiếc vé tàu trở nên gần gũi với con người….
+ Thể hiện những lo lắng không yên, bồi hồi của người con xa cách được trở về thăm mẹ…
Hướng dẫn chấm:
– HS trả lời tương đương như đáp án: 1,0 điểm
– HS trả lời tương đương như đáp án được 1 ý: 0,5 điểm
– HS trả lời không đúng như đáp án không cho điểm
5 HS trình bày một số ý:
– Với tất cả những người con, ngôi nhà của mẹ chính là chỗ trú ẩn, là bến đỗ, là điểm dừng chân bình yên nhất.
– Hãy luôn yêu, gắn bó với ngôi nhà ấy, bởi nơi ấy luôn có mẹ chờ mong, yêu thương con.
– Luôn biết hiếu thảo với cha mẹ, nhất là khi cha mẹ còn sống
Hướng dẫn chấm:
HS có thể trả lời trả lời theo nhiều cách trên cơ sở đảm bảo yêu cầu sau:
– HS trả lời tương đương như đáp án: 1,0 điểm
– HS trả lời được thông điệp là điểm dừng chân bình yên: 0,5 điểm
– HS trả lời được thông điệp yêu thương, gắn bó : 0,5 điểm
(Lưu ý: HS có những thông điệp khác, nếu phù hợp vẫn cho điểm tối đa)
VIẾT
1 Viết đoạn văn nghị luận(khoảng 200 chữ) cảm nhận của anh/chị về hình ảnh: ngôi nhà của mẹ trong bài thơ “Ngôi nhà của mẹ – Hữu Thỉnh.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng (200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: cảm nhận về hình ảnh ngôi nhà của mẹ trong văn bản thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Viết được đoạn văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo các nội dung sau:
– Ngôi nhà của mẹ gắn liền với những hình ảnh quen thuộc gần gũi: chiếc chõng tre, giọt ranh thưa, làn nước trong mát, mảnh sân nhà, chiếc dây phơi buộc ở đuôi kèo, sân gạch lún đọng nước, vó nhện trên tường cũ, khói bếp, ngọn lửa, …đó chính là những mảng kí ức mà con mãi không quên, đó là chặng đường đời đầu tiên, là hành trang cho con vững bước về sau.
– Ngôi nhà ấy có mẹ, có cha, có tình yêu thương vô điều kiện của bao người thân yêu…nơi ấy con được nuôi dưỡng, chăm sóc, được yêu thương vô điều kiện. Từ nơi ấy con lớn khôn, trưởng thành.
– Ngôi nhà là bến đỗ bình yên: Hình ảnh so sánh: ngôi nhà mẹ là chiếc ga bé nhỏ, hình ảnh chiếc ga gợi bến dừng đỗ, nghỉ chân, hình ảnh ẩn dụ (chúng con đến và đi từ nhà ga ấy) đã gợi lên những cảm xúc của người con về ngôi nhà của mẹ (thực chất là về mẹ) – một bến đỗ bình yên, êm ả, chan chứa yêu thương – trên mỗi chặng đường chiến đấu của người lính.
– Với thể thơ tự do, giọng điệu tha thiết, giàu cảm xúc, hình ảnh thân thuộc.
Ngôi nhà của mẹ hiện lên chính là điểm xuất phát cũng là nơi trở về trong hành trình của những đứa con.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.
Có cách diễn đạt mới mẻ, sử dụng ngôn ngữ sinh động, hấp dẫn, …
Hướng dẫn chấm:
– Học sinh huy động được kiến thức của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận: cảm nhận về hình ảnh ngôi nhà của mẹ có cách nhìn riêng, mới mẻ, có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, giọng điệu, hình ảnh.
– Đáp án đúng được 02 yêu cầu trở lên: 0,25 điểm
(Lưu ý: HS có những lí lẽ khác, hợp lí vẫn cho điểm tối đa; nếu viết dưới cấu trúc bài văn thu gọn trừ 0,5 điểm. Nếu không có dẫn chứng trừ 0,25 điểm)
2 Anh/ chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ của bản thân về câu nói: “Tôi đã khóc khi không có giày để đi, cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giày” (Hellen Keller).
a. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận
Đảm bảo yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: suy nghĩ của bản thân về câu nói: “Tôi đã khóc khi không có giày để đi, cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giày”.(Hellen Keller).
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Học sinh lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề nghị luận
* Thân bài:
LĐ1. Giải thích
– “Đã khóc”: Sự buồn bã, đau xót và tuyệt vọng, buông xuôi.
– “Không có giày để đi”: Hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn (về vật chất).
– “Không có chân để đi giày”: Hoàn cảnh bất hạnh, nghiệt ngã (của số phận).
– “Đã… cho đến khi”: Sự nhận thức, “ngộ” ra một vấn đề cuộc sống.
– Ý nghĩa của lời tâm sự: Sự thiếu thốn, khó khăn của riêng ta chẳng thấm gì nếu so sánh với những xót đau, bất hạnh của nhiều người khác quanh ta.
LĐ2. Chứng minh/bàn luận
– Cuộc sống của mỗi người vốn luôn có thể gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Trước những điều đó, con người – nếu thiếu bản lĩnh, nghị lực và nhận thức – dễ buồn đau, thất vọng, buông xuôi….Thực tế cho thấy chính những khó khăn đó sẽ là những trải nghiệm tuyệt vời cho bạn để vươn lên, để khẳng định chính mình, để sống một cuộc đời có ý nghĩa.
– Hơn nữa, nếu bước ra cuộc đời, hoặc nhìn lại xung quanh, ta sẽ thấy có những con người phải chịu những thiệt thòi, bất hạnh hơn ta rất nhiều….
– Nêu và phân tích một số tấm gương vượt lên số phận:
+Helen Keller là một người mù và điếc từ nhỏ do bị mắc bệnh mù loà. Tuy nhiên, bằng nghị lực và ý chí phi thường, cô đã vượt qua khó khăn và trở thành một tác giả, diễn giả và hoạt động xã hội nổi tiếng. Helen Keller là một tấm gương sáng về sự vượt lên số phận và khả năng chinh phục những thách thức đối với mọi người.
+ Sinh ra mà không có cánh tay và chân, Nick Vujicic đã đối mặt với nhiều khó khăn và sự bất công trong cuộc sống. Tuy nhiên, thay vì chìm vào sự tự ti và tuyệt vọng, Nick đã chứng minh rằng ý chí và lòng quyết tâm có thể vượt qua mọi rào cản. Anh đã trở thành một diễn giả truyền động lực và tác giả của nhiều cuốn sách thành công, truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới.
+ Năm Nguyễn Công Hùng tròn 2 tuổi thì bị một căn bệnh quái ác khiến cậu trở thành người bại liệt toàn thân. Với sự nỗ lực không ngừng, anh đã tốt nghiệp đại học và trở thành “Hiệp sĩ công nghệ thông tin”, sáng lập Trung tâm Nghị lực sống tại thủ đô Hà Nội. Hùng đã vinh dự được Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao tặng Kỷ niệm chương “15 năm – Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu”.
LĐ3. Bàn luận, mở rộng.
– Tuy nhiên thực tế vẫn còn rất nhiều người, trước những đau khổ, bất hạnh của bản thân thường buông xuôi, bỏ cuộc, để rùi đánh mất chính mình… Họ không hiểu được rằng: xung quanh còn biết bao người thiệt thòi, khổ cực hơn mình …Đó là điều đáng buồn, đáng lên án.
LĐ 4: Bài học học nhận thức và hành động.
– Nhận thức về điều đó, một mặt, ta phải tự vươn lên hoàn cảnh của chính mình – bởi thực ra, nó chưa thực sự đáng sợ như ta nghĩ; mặt khác, phải hiểu rằng: chính hoàn cảnh khó khăn ấy là sự thử thách, tôi luyện để ta ngày càng trưởng thành, hoàn thiện.
– Cuộc sống của mỗi người được quyết định bởi sự tự nhận thức, bản lĩnh và nghị lực vươn lên không ngừng, sống tích cực: biết rút ra bài học sau mỗi vấp ngã, biết dấn thân, trải nghiệm,…
+ Hơn thế nữa, ta còn phải nhìn ra cuộc đời để nhận biết, đồng cảm, chia sẻ; từ đó mà thêm động lực, thêm tin yêu để sống, làm việc và cống hiến, biết giúp đỡ mọi người: hiến máu nhân đạo, ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam….
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
(Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.)
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ
Hướng dẫn chấm:
– HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
– Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm.
Leave a Reply