MỞ BÀI , KẾT BÀI , PHẢN BIỆN, LIÊN HỆ MỞ RỘNG HSG HAY:

I/ Mở bài :

1. Rasul Gamzatov bằng hành trình đeo đuổi con chữ cả đời mình đã đúc kết rằng :

“ Khi cơn mưa xuân rơi ở đâu đó

Thì trên đồng xào xạc cỏ và hoa

Khi nước mắt rơi từ thi sĩ

Thì những lời chân chính được sinh ra.”

Dẫu văn học bén rễ nơi mảnh đất hiện thực mỡ màu ngoài kia thì mỗi dòng, mỗi tiếng dưới ngòi bút người nghệ sĩ phải là kết quả của khát khao cháy bóng thiết tha từ trái tim anh. Thật vậy, sáng tạo văn học có thể do đòi hỏi của cuộc sống nhưng trước hết phải do nhu cầu của nhà văn.

2. “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý”(M.Gorki). Phải chăng, vì thiên chức cao cả ấy, mỗi tác phẩm văn học là một bức tranh tái hiện lại một “khuôn mặt”, một góc độ của đời sống, nó vừa có thể là những mảng hạnh phúc và cũng có thể là cả những mảng tăm tối của hàng vạn nỗi đau để từ đó hướng con người tới cái đẹp đầy nhân văn. Đặc biệt, khi viết về những nỗi đau, tác phẩm lại càng tạo ra nhiều ám ảnh, suy ngẫm. bởi vậy khi trả lời phỏng vấn tạp chí văn nghệ Paris nhân dịp nhận giải thưởng Premio Nonino năm 2008, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cho rằng : “ Văn học là một sự chiêm nghiệm những đau khổ của con người.”

3. Thả hồn mình nương theo những câu từ da diết của những trang văn, lòng tôi lại xốn xang, thổn thức. Dường như hành trình trưởng thành của mình đều có bóng dáng văn chương kề cạnh. Tôi lớn lên với những câu chuyện cổ tích, thần thoại, những bài thơ dung dị về cánh cò, hương lúa. Tôi lớn lên cùng với mơ mộng nơi xứ sở thần tiên trong những trang truyện cổ tích Andersen, tôi trưởng thành từ những đau đáu khi đọc F.Kafka. Và đôi khi văn chương cũng để tâm hồn tôi, tâm trí tôi dằn vặt trước niềm thống khổ trong cõi đời. Có chăng vì thế mà Pautopxki đã quan niệm trong văn chương là “xứ sở của cái đẹp”. Còn A. Camus đã khẳng định: “ Điểm cao quý của nghệ thuật chính là sự giằng co giữa cái Đẹp và niềm Đau khổ.”

4. Chiếc nhẫn của vua Solomon có khắc dòng chữ : “ Gam zeh ya’avor “ – “ Tất cả rồi sẽ qua đi”. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, vạn vật cứ thế chuyển tiếp luân hồi, vậy có điều gì là còn mãi? Có lẽ những trang văn chân chính sẽ mãi là một ô cửa bí mật thôi thúc sự kiếm tìm của độc giả bao thế hệ với những cuộc thám hiểm thú vị. Nói như Franz Kafka : “ Văn học luôn là một cuộc thám hiểm sự thật.”

II/ Kết bài :

1. “ Thơ làm cho tất cả mọi điều trên thế gian trở thành bất tử”(Shelly), có lẽ cũng chính bởi sự bất tử ngàn đời của giá trị nội tại và tự sinh của ngôn ngữ nghệ thuật. Mỗi chúng ta, hãy yêu thơ ca bằng cách tự thắp lên thứ ánh sáng bất tử ấy trong quá trình tiếp nhận của mình, cũng như cách mà nhà thơ Lorca đã hóa thân và cây hòa điệu của thơ ca một tiếng đàn bất tử như thế :

“ Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghi ta màu bạc

li – la, li – la , li – la ,…

2. Văn chương là một nét thanh sạch của chén trà buổi sương sớm. Nó chứa đựng những dư vị của cuộc đời, nó mang nỗi đắng chát của nhân sinh và rồi làm con người bừng ngộ những suy tư, chiêm nghiệm. Đến với văn chương, “những kẻ muốn vô tư” được thức nhận, được giáo dục, được rung động và tin yêu với cái đẹp trong cuộc đời và dằn vặt, xót xa cho niềm thống khổ của chúng sinh. Bởi văn chương là nơi mà tiếng thở của cành lá, tiếng chạm nhau của những đường tơ ánh sáng cũng trở thành những “khoảnh khắc vô tận.”

3. Sự đời “thương hải tang điền”, đổi thay khó đoán định. Thời gian cũng có thể “biến tóc ta thành hoa lau”, “nhuộm hồn ta thành lá đỏ” rồi đến một ngày “đời ta biến thành mây lang thang” ( Nguyễn Nhật Ánh ). Song tôi luôn tin rằng, văn chương với sứ mệnh muôn đời và giá trị sâu sắc vẫn luôn trường tồn cùng thời gian, là “hành trình thám hiểm” đầy thú vị, khơi gợi sự khám phá của nhân loại mãi về sau.

4. Đi ra từ quán trọ trần gian để trở về với miền cát bụt, ngang qua những cánh đồng đầy mưa xuân và nắng ấm, tôi vẫn thấy thấp thoáng những đóa hoa văn chương, Chúng tỏa hương và khoe sắc ánh vàng, để lại những khách vãng lai là bạn tri âm có dừng chân ghé lại, họ vẫn lưu luyến mà không nỡ rời xa.

5. Trong vở kịch “Hăm-lét”, Sếchxpia đã từng đưa ra câu nói nổi tiếng:”Tồn tại hay không tồn tại?”. Phải chăng, tác phẩm nghệ thuật chỉ có thể trường tồn nếu nó là một liều thuốc tinh thần quý báu mà người nghệ sĩ góp vào kho tàng văn học nhân loại? Và đó, cũng là tôn chỉ của thơ ca, là mạch máu sống còn của cả đời thơ đang trôi chảy trong trái tim mỗi thi nhân.

6. Ngay lúc này, vị thế của văn chương đứng trước sự cạnh tranh của vô vàn những loại hình nghệ thuật khác mang đậm tính giải trí hơn. Song, xét cho cùng, văn học vẫn có vị thế riêng trong đời sống tinh thần nhân loại mà khó có bộ môn nghệ thuật nào có thể thay thế, chừng nào nhà văn còn cất lên tiếng nói cho những tâm tư sâu kín của con người, và chừng nào vẫn còn những người đọc “ưu tú”. “Độc giả ưu tú nhất là những độc giả trong trắng, họ đọc không phải vì lấy kiến thức, họ đọc vì yêu. Họ đọc vì thấy các câu chữ giản dị kia nói giúp cho họ nhưng sâu kín cay đắng nồng nhiệt mà họ luôn luẩn quẩn nghĩ không sao thốt nổi thành lời. Thật hạnh phúc cho một tác giả nào chỉ có toàn đọc giả như thế.” Nguyễn Việt Hà đã viết như thế trong Khải huyền muộn. Con người ta vẫn cần và văn đọc văn học trong ngày mai và cả ngày sau nữa :

“ Tôi đã thử đánh rơi trang giấy mình xuống nước

Thơ không thể tự hơ khô trang giấy của mình

Nhưng mặt trời tình yêu, bạn ơi có thể

Làm ký ức nhòe rồi bỗng lại tươi xanh.”

III/ Phản biện, liên hệ mở rộng :

1. Tôi đã từng đọc bài thơ Haiku thế này :

“ Hoa đào rơi

Hay còn trên cành

Cuối cùng cũng rụng rơi”

( Ryokan)

Những cái đẹp dù khiến cho con người ta mãi xao xuyến vấn vương nhưng cũng chẳng tránh khỏi những quy luật phai tàn nghiệt ngã của thời gian. Và những cái đẹp lâm nguy, đứng trước sự phai tàn cốt yếu liệu có còn giữ được một sức sống? Cái đẹp trong văn chương liệu có tránh khỏi quy luật ấy? Khi giờ đây chúng ta nhận ra sức hút của văn chương không còn như xưa. Liệu con người có còn nhận thức được những giằng co giữa cái đẹp và niềm đau khổ? Thực tế đã cho ta thấy rằng con người dần hoài nghi về sức sống của văn chương trong đời đại văn minh trước sự lên ngôi của các loại hình nghệ thuật khác, trước sự lớn mạnh của AI, robot,.. Có lẽ văn chương giờ đây không còn là sự ưu tiên hàng đầu đối với con người. Nhưng giữa một thế giới nơi con người ta coi sống là một màn trình diễn bất tận, nơi con người không thể tồn tại bên ngoài chiếc mặt nạ ta có thấy sự đồng điệu nào hơn ở thế giới văn chương. Tôi vẫn tin văn chương sẽ mãi mang một sức sống dù đứng trước một thế giới đầy bất an. Văn chương vẫn sẽ mang giá trị như nó đã làm, vẫn tạo nên vẻ đẹp cho cuộc đời và cho con người những giá trị tích cực nhất. Và với giá trị ấy thì cái đẹp trong văn chương sẽ mãi trường tồn.

2. Ngày nay, khi công nghệ in ấn trở nên vô cùng phổ biến và phát triển cũng như quy trình kiểm soát ít nghiêm ngặt hơn, dường như việc đưa những cuốn sách đến tay bạn đọc trở nên dễ dàng và ít gặp trở ngại. Quả thật, tôi lấy làm lo ngại cho những thanh thiếu niên chỉ “thiết tha” với những câu chuyện ngôn tình Trung Quốc sướt mướt, thu hút người đọc chưa đủ tuổi bằng những cảnh nóng, cách hạn xử bạo lực ngụy biện là tình yêu, suy đồi về mặt đạo đức nhưng được phóng túng, ca ngợi như một đấng cứu thế khiến bao người mê mẩn dưới những ngòi bút “tam quan lệch lạc”. Nói rằng văn học nên xuất phát từ những khoái cảm thẩm mỹ đơn thuần nhất nhưng đó phải là những giá trị mang đầy đủ phẩm chất chân – thiện – mỹ hướng con người đến một giá trị tinh thần và đạo đức tích cực hơn. Vậy nên trong thời đại ngày nay, tôi càng thấm thía hơn sự bộc bạch của Kafka và Mario Vargas Llosa và thiết nghĩ người đọc nào cũng nên ghi khắc trong tâm trí để mỗi giây phút mình dành để đọc sách đều là một giây phút có giá trị.

3. Ngắm nhìn màn hòa ca trên ban công nước Ý, trong khoảnh khắc cái chết từ đại dịch có thể lướt qua và cướp đi mạng sống của bất cứ ai, những người dân ở đấy vẫn thắp lên hy vọng bằng lời ca tiếng hát. Văn chương là tiếng ca trong trẻo, cất lên từ dạ khúc của trần gian, thoát thai từ cung đàn của người cầm bút để mãi ngân vang trong lòng người. Trong giây phút cận kề giữa sự sống và cái chết, văn chương là nơi nương tựa cho tinh thần nhân loại, vực họ dậy từ đêm tối bẽ bàng để chiếu soi và tỏa sáng chân giá trị. Dù mai này có xuất hiện những robot biết viết văn, làm thơ hay sự phát triển vượt bậc của công nghệ thời đại mới, dù có bay lên dải Ngân hà xa xăm vô cực thì con tàu Vostok vẫn cần một nhành hoa lila, giống như nhân loại vẫn cần một nỗi lòng văn nhân.

4. Đặt ra trong mỗi người nghệ sĩ một thiên kiến tuy không vẹn toàn nhưng đủ để họ thức tỉnh mỗi khi đứng trước “pháp trường trắng” chấm bút nghiên mực cuộc đời mà viết lên thơ ca trường tồn. Với sứ mệnh là kẻ nói thay, nói hộ lòng người, viết hộ nhân loại nhưng lại có cái bản lề riêng mình thì người nghệ sĩ, đặc biệt là thi nhân nên giữ con chữ độc đáo đầy cá tính sáng tạo. Bởi lẽ Baudelaire gọi những từ ấy ở một thi sĩ là chìa khóa.

5. Đặc biệt, là người độc giả với chức năng quan trọng không kém khi xây dựng một tác phẩm với sự đóng góp vào đó là phần không thể thiếu. Nếu thi nhân viết đoạn kết cho tác phẩm của mình, thì độc giả sẽ mở đường với lấy ánh sáng tinh khiết soi rạng thứ sinh thể ấy sống bền lâu giữa đời sống rộng lớn luôn xoay chuyển trong từ khoảnh khắc. Do đó, độc giả cần tiếp nạp thêm tri thức, hiểu thêm về đời sống của thi nhân và cho họ một cái nhìn tôn trọng về đứa con tinh thần của họ. Không nên, vả lại không được phép lăng mạ hay xúc phạm một “đứa con” nào đó, bởi chính thời gian và sự trân quý tác phẩm sẽ tự khép lại đời nó trong vòng tuần hoàn nhỏ hẹp nếu không có sự ủng hộ nhiệt thành từ bạn đọc.

6. “Chỗ này sâu ư? Không, chỉ là nước đục ngầu.

Chỗ này cạn ư? Không, chính vì nước trong nên ta nhìn thấy đáy.

Chỗ sâu cạn trong thơ là thế đấy!”

Những vần thơ “siêu nghệ thuật” của Chế Lan Viên như một lời nhắc nhớ người nghệ sĩ về mối tương quan giữa đứa con tinh thần của anh với người đọc. Đành lòng rằng đã là thơ thì phải có chỗ “cạn”, chỗ “sâu”, chỗ “trong”, chỗ “đục”, song không phải vì thế mà anh viết nên những câu thơ “đánh đố” người đọc, để bạn đọc của anh nhọc lòng đi tìm ngữ nghĩa ẩn sau những chỗ “mờ đục” đó. Thiên chức của văn chương là lạ hóa, nhưng nó không nên “xa lạ hóa” với người đọc bằng sự cắc cớ về câu từ, sự biến hóa của ngữ nghĩa một cách vô tội vạ mà không mang bất kỳ giá trị nghệ thuật nào. Hãy để văn chương len lỏi và neo đậu vào tâm hồn bạn đọc bằng cách nuôi dưỡng những suy tư và trí tưởng tượng rất đỗi tự nhiên bên trong độc giả, thay vì chỉ là sự đánh đố trong trò đúc chữ luyện câu.

7. Như một lẽ thông thường, mỗi tác phẩm nghệ thuật sẽ là một “bể lớn” để bạn đọc phát huy trí tưởng tượng vô biên của chính mình. Song, điều đó không đồng nghĩa với việc bạn đọc có quyền xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa của văn bản theo suy luận một chiều và chủ quan của chính mình. Bạn đọc, suy cho cùng “không phải là chủ nhân của kí hiệu mà là người phục vụ kí hiệu đáng tôn trọng”, anh phải men theo dấu hiệu ngôn từ, mạch cảm xúc trong văn bản để có thể tìm ra mạch ngầm ý nghĩa được tác giả ẩn giấu đằng sau lớp lớp chữ nghĩa để tránh xa tính chủ quan trong diễn giải. Người đọc, anh phải đặt văn bản trong mối quan hệ mật thiết với thời thế, với những manh mối trong văn bản, để không “dùng con mắt thời đại anh để nhìn trời mưa cũ”, để hướng đến tính khách quan trong diễn giải, để cách hiểu của mình có tính thuyết phục và được thừa nhận một cách rộng rãi trong cộng đồng diễn giải. Có như thế, ý nghĩa của văn bản mới không ngừng được sinh thành nhưng vẫn không rời xa bản chất ban đầu của chính nó.

9. Văn học phải bắt nguồn từ hiện thực?

Đồng ý rằng, sáng tạo nghệ thuật không có nghĩa là tùy tiện, tô hồng cuộc sống song cũng không nên quy chụp nó đồng nhất với hiện thực. “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư từng bị các nhà quản lý cho là bôi đen hiện thực, “phản ánh không đúng cuộc sống, tâm tư người dân Cà Mau. Cả những tội ác trong truyện cũng rất hoang đường”. Có phải chúng ta đã quên rằng văn chương là sản phẩm của trí tưởng tượng, mang tính chất hư cấu vì vậy mới có sự phân chia giữa “thế giới nghệ thuật” và “thế giới hiện thực”. Nhà văn Đặng Thiều Quang đã từng chia sẻ công thức viết văn của mình “1% hiện thực + 99% bịa thành thực = 100% tác phẩm”. Hiện thực là cơ sở, tiền đề để hình thành nên một tác phẩm nghệ thuật nhưng điều chính yếu vẫn là “bịa thành thực”, ấy là những yếu tố tưởng tượng, hư cấu giúp bạn đọc nhận được những khoái cảm thẩm mĩ. Điều này cũng khiến người đọc nhận thức được rằng cần phải cho các nghệ sĩ không gian đủ lớn để sáng tạo, nếu ta có “vô tình” làm gián đoạn đi các ý tưởng sáng tạo nghệ thuật thì nền văn học nước nhà khó có thể bứt phá và khó bắt nhịp với nghệ thuật thế giới.

10. Văn chương có hoàn toàn là liều thuốc xoa dịu tâm hồn con người?

Văn chương đôi khi khiến ta bất mãn hơn về cuộc sống. Nó kháng cự những mặc định cố hữu, nỗ lực giúp con người thoát ra những lầm tưởng và ngộ nhận nông cạn, làm tổn thương chúng ta, khiến ta phải vật lộn và xung đột nội tâm với chính mình. Đọc “Rừng Na Uy” của Haruki Murakami, người đọc không thể tìm thấy một tương lai tươi sáng, ở đó đầy rẫy những cái chết, những vô định và nhục dục. Nói gì đâu xa, Nguyễn Tuân dù có ca ngợi Huấn Cao là người có thiên lương cao đẹp, là một bậc quân tử thì vẫn bị “trừng trị” dưới thứ được gọi là “công lý”, là quyền lực. Đọc văn là một hành trình của sự tỉnh thức, và để ta biết rằng thực tế luôn “hỏng hóc” nhưng đó mới chính là sự thật. Có thể nói, nghệ thuật đích thực mang tính chất đập phá, bất phục tùng, bất trị, bất thoả hiệp, khó đưa vào khuôn phép nhằm không ngừng truy vấn, khơi vẫy đối thoại.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo

0918926541