CÁCH LÀM BÀI NLVH ( 600 chữ) SO SÁNH, ĐÁNH GIÁ HAI TÁC PHẨM THƠ HIỆN ĐẠI THEO 3 ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH

PHẦN I: Các bước viết bài văn nghị luận so sánh đánh giá 2 tác phẩm thơ hiện đại

1. Tìm ý: Dựa vào yêu cầu của kiểu bài , có thể nêu các câu hỏi sau để tìm ý

So sánh, đánh giá hai bài thơ dựa trên cơ sở nào ? Việc xác định cơ sở để so sánh , đánh giá được thực hiện dựa trên nội dung ( hiện thực đời sống , tư tưởng, tình cảm của tác giả …) và hình thức nghệ thuật của tác phẩm ( thể loại , ngôn ngữ, kết cấu , giọng điệu, hình ảnh , chi tiết, thủ pháp nghệ thuật .

– Điểm tương đồng giữa hai tác phẩm thơ là gì ?

– Đâu là điểm khác biệt giữa hai bài thơ

– Yếu tố nào tạo nên những điểm tương đồng và khác biệt của hai bài thơ

– Đánh giá thế nào về giá trị của mỗi bài thơ

2. Lập dàn ý

– Cần sắp xếp các ý đã tìm được thật hợp lý để có dàn ý hoàn chỉnh

– Có nhiều cách trình bày nội dung so sánh đánh giá . Người viết cần linh hoạt trong việc lựa chọn cách trình bày phù hợp với hiểu biết và hứng thú của bản thân , điều này sẽ gióp phần quan trọng vào thành công của bài viết . Tùy khả năng của bản thân , người viết có thể lựa chọn một trong những cách sau

a. Cách 1

* Mở bài

– Giới thiệu hai tác phẩm và tác giả: Giới thiệu sơ lược về hai tác phẩm và tác giả, nêu khái quát về nội dung và phong cách của từng tác phẩm.

– Nêu vấn đề nghị luận: Đưa ra nhận định chung hoặc nêu khái quát về chủ đề so sánh hai tác phẩm.

* Thân bài

– Luận điểm 1: Phân tích hai tác phẩm

+ Phân tích tác phẩm thứ nhất

. Nội dung và chủ đề: Tóm tắt nội dung chính, nêu chủ đề và tư tưởng chủ đạo.

. Nghệ thuật thể hiện: Phân tích cách sử dụng hình ảnh, ngôn từ, nhạc điệu và biện pháp nghệ thuật nổi bật.

. Đánh giá sơ bộ: Đưa ra nhận xét về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.

+ Phân tích tác phẩm thứ hai

. Nội dung và chủ đề: Tương tự như luận điểm 1, trình bày nội dung và tư tưởng của tác phẩm thứ hai.

. Nghệ thuật thể hiện: Phân tích các yếu tố nghệ thuật riêng của tác phẩm này.

. Đánh giá sơ bộ: Nhận xét tổng quát về đặc điểm nổi bật của tác phẩm.

– Luận điểm 2: So sánh hai tác phẩm

+ So sánh nội dung và chủ đề: Tìm những điểm chung và khác biệt về chủ đề và tư tưởng.

+ So sánh về nghệ thuật: So sánh cách dùng ngôn ngữ, hình ảnh, cách thể hiện tâm tư và nhịp điệu trong hai tác phẩm.

– Luận điểm 3: Lí giải và đánh giá tổng thể:

+ Lí giải cơ sở của sự giống và khác nhau

+ Đánh giá tổng thể giá trị của hai tác phẩm, khẳng định được giá trị ý nghĩa của mỗi văn bản thông qua bài nghị luận so sánh.

*Kết bài

– Khẳng định giá trị của hai tác phẩm: Tổng kết lại giá trị tư tưởng và nghệ thuật của hai tác phẩm.

– Đưa ra suy nghĩ cá nhân hoặc thông điệp: Bày tỏ cảm nghĩ riêng hoặc liên hệ ý nghĩa của hai tác phẩm với cuộc sống ngày nay.

Với cách viết này, học sinh sẽ đi vào phân tích lần lượt từng tác phẩm trước rồi rút ra những điểm giống và khác nhau từ đó lí giải nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó . Cách viết này sẽ phù hợp với những bạn có khả năng học vừa và khá . Những bạn có tư duy tốt hơn có thể áp dụng cách viết thứ 2

b. Cách 2

* Mở bài

– Dẫn dắt và giới thiệu đối tượng so sánh: tên hai tác phẩm, hai tác giả.

– Nêu vấn đề cần so sánh.

– Nên

+ Đưa một câu nhận định về VH,hoặc về Thơ…

+ Đi từ chủ đề, đề tài … (Liên quan đến nội dung 2 TP)

* Thân bài

Khái quát chung

+ Giới thiệu đôi nét về hai tác giả (Nếu là tác giả được học trong chương trình hoặc được giới thiệu trong đề thi hoặc khẳng định vị trí của hai tác giả …).

+ Giới thiệu đôi nét về hai tác phẩm:

. Hoàn cảnh ra đời (Căn cứ vào phần chú thích giới thiệu trong để thi hoặc năm sáng tác tác phẩm -thường để cuối tác phẩm).

. Thể loại, ngôn từ, nghệ thuật ( Điểm nhìn, không gian, thời gian, hình ảnh, cảm xúc…)

. Phong cách tác giả (văn phong)

+ Khái quát điểm giống và khác nhau được thể hiện qua hai tác phẩm/ đoạn trích.

Những điểm tương đồng và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó

+ Điểm giống nhau của hai tác phẩm/đoạn trích về nội dung, nghệ thuật.

++ Điểm giống về nội dung: Đề tài, chủ đề, hình ảnh, cảm xúc…; thông điệp, tư tưởng… của hai tác phẩm thơ.

++ Điểm giống về nghệ thuật:Thể thơ, cấu tứ, giọng điệu, hình ảnh, BPTT, ngôn từ, cách gieo vần, ngắt nhịp …

+ Điểm khác nhau của hai tác phẩm/ đoạn trích về nội dung, nghệ thuật.

++ Điểm khác nhau về nội dung: Cách thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhà thơ, ý nghĩa, thông điệp của TP…có gì khác ?

++ Điểm khác nhau về nghệ thuật : Thể thơ, ngôn từ, BPTT, nhịp, vần, giọng điệu, kết cấu, cấu tứ…có gì khác ?

Lưu ý: Khi phân tích TP thơ hoặc đoạn thơ: Cần chú ý đến từ ngữ, hình ảnh, cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình, cấu tứ, các BPTT, tín hiệu nghệ thuật khác

+ Lí giải điểm giống, khác nhau

++ Lí giải vì sao có điểm tương đồng, khác biệt?

Bối cảnh thời đại.

Đặc trưng thi pháp của thời kì/ giai đoạn văn học.

Phong cách nghệ thuật riêng của tác giả.

++ Ý nghĩa của sự tương đồng, khác biệt:

Sự thống nhất trong quan điểm, cách nhìn nhận của tác giả, đặc trưng thi pháp của thời kì/ giai đoạn; xu thế chung của thời đại.

Sự độc đáo, đa dạng trong phong cách nghệ thuật. Sự phong phú của nền văn học.

Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai đoạn thơ/ 2 tác phẩm và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi đoạn/tác phẩm . Khẳng định sự đóng góp của hai đoạn thơ/ 2 tác phẩm , hai tác giả.

+ Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.

+ Khẳng định sự đóng góp của hai tác phẩm/ đoạn trích, hai tác giả.

* Kết bài

Khẳng định ý nghĩa của so sánh, đánh giá hai tác phẩm. Có thể nêu những ấn tượng của bản thân.

3. Hướng dẫn viết

Vận dụng kinh nghiệm đã tích lũy để viết mở bài và kết bài ngắn gọn gây được ấn tượng đối với người đọc về ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá. Triển khai thân bài theo các ý đã xác định và làm nổi bật được nội dung. Với mỗi đối tượng học sinh, GV cần có những hướng dẫn viết cụ thể trong từng phần. Ví dụ:

a. Mở bài: Vào đề ấn tượng, khái quát vấn đề cần so sánh

– Nhóm học sinh giỏi:

+ Học sinh nhóm này được khuyến khích mở bài bằng một câu nói nổi tiếng, một trích dẫn từ tác phẩm, hoặc một câu hỏi gợi mở để thu hút người đọc.

+ Giới thiệu vấn đề cần so sánh với cách dùng từ ngữ phong phú, thể hiện sự cảm nhận cá nhân và tạo cảm giác độc đáo cho người đọc.

+ Dùng lời văn sáng tạo, khái quát các chủ đề mà hai tác phẩm đề cập, tạo nền tảng cho phần thân bài.

b. Thân bài: Phân tích từng tác phẩm và so sánh từng khía cạnh để bài viết không bị lặp

– Nhóm học sinh giỏi:

+ Phân tích sâu và linh hoạt: Học sinh được khuyến khích triển khai bài theo cấu trúc linh hoạt, tự do phát triển từng ý trong phân tích mà không cần theo thứ tự quá cứng nhắc.

+ So sánh theo từng khía cạnh riêng biệt: Sau khi phân tích từng tác phẩm, học sinh nên so sánh ngay các điểm tương đồng và khác biệt về nội dung, nghệ thuật, và ý nghĩa, giúp bài viết thêm sắc bén.

+ Nhấn mạnh sự độc đáo của từng tác phẩm: Hướng dẫn các em khai thác các ý sâu sắc hơn, ví dụ: “Trong khi tác phẩm A chú trọng diễn tả nỗi đau mất mát, tác phẩm B lại thể hiện khát vọng vươn lên vượt qua khó khăn.”

c. Kết bài: Đưa ra kết luận, khẳng định lại giá trị và ý nghĩa của hai tác phẩm

– Nhóm học sinh giỏi:

+ Kết luận phong phú, liên hệ mở rộng: Kết bài bằng cách nêu bật giá trị lâu dài của hai tác phẩm và ý nghĩa sâu sắc với đời sống con người. Khuyến khích học sinh liên hệ với các chủ đề lớn hơn như lòng yêu nước, tình yêu quê hương.

+ Nhấn mạnh ý nghĩa cá nhân: Học sinh có thể nêu cảm nhận cá nhân và bài học rút ra từ hai tác phẩm.

PHẦN II. VẬN DỤNG

ĐỀ 1: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai bài thơ sau:

Anh xa em
Trăng cũng lẻ
Mặt trời cũng lẻ
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút
đã cô đơn
Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Sóng chẳng đi đến đâu

nếu không đưa em đến
Dù sóng đã làm anh
Nghiêng ngả
Vì em

(Hữu Thỉnh, Thơ viết ở biển, In trong tập 100 bài thơ tình chọn lọc, NXB Giáo dục, 1997, tr. 152-153)

Anh cách em như đất liền xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm
Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió
Cho trời sao yên rụng một đêm hoa

(Chế Lan Viên, Chùm nhỏ thơ yêu, In trong tập Hoa ngày thường – Chim báo bão, NXB Văn học, 1967)

Chú thích: Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942. Ông là là tác giả của những tập thơ, trường ca tiêu biểu như Sang thu, Thư mùa đông, Trường ca biển, Thương lượng với thời gian…Thơ ông mang tính trữ tình sâu lắng, gần gũi với thiên nhiên và cuộc sống; ngôn từ giản dị, trong sáng.

Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989). Con đường thơ của ông trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi sáng tạo không ngừng. Thơ Chế Lan Viên giàu tính suy tưởng- triết lí với hệ thống hình ảnh phong phú, độc đáo, giàu ý nghĩa biểu tượng.

GỢI Ý

a. Mở bài:

– Dẫn dắt vào đề tài tình yêu và nỗi nhớ trong thơ ca.

– Giới thiệu hai bài thơ Thơ viết ở biển (Hữu Thỉnh) và Chùm nhỏ thơ yêu (Chế Lan Viên); khẳng định hai bài thơ có những điểm tương đồng và khác biệt.

b. Thân bài:

* Khái quát đôi nét về tác giả Hữu Thỉnh và Chế Lan Viên

* Những điểm tương đồng và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó

– Những điểm tương đồng giữa hai bài thơ:

+ Cả hai bài thơ đều viết về đề tài tình yêu và nỗi nhớ khi xa cách. Cảm hứng chủ đạo là tình cảm yêu thương, nhớ nhung, trăn trở, suy tư da diết, sâu sắc. Hai tác phẩm cùng chọn nhân vật trữ tình là “Anh” – là cái tôi trữ tình của tác giả để gửi gắm những cảm xúc chân thành, đắm say về tình yêu và cuộc đời.

+ Những cảm xúc, suy tư của hai nhà thơ đều được thể hiện qua hình thức thơ tự do, đậm chất trữ tình, lãng mạn. Cả hai bài thơ đều có những hình ảnh so sánh, nhân hóa, ẩn dụ giàu tính biểu cảm.

– Những điểm khác biệt giữa hai bài thơ:

+ Nếu Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh thể hiện những cảm xúc của chủ thể trữ tình khi đứng trước biển cả bao la, rộng lớn, cảm thấy nhỏ bé trước không gian, cô đơn khi xa cách người yêu, nhớ mong, khao khát, cháy bỏng thì Chùm nhỏ thơ yêu của Chế Lan Viên nghiêng về diễn tả những trạng thái tâm lí, những khoảnh khắc đẹp đẽ, đặc trưng của tình yêu, khi ngọt ngào, say đắm, khi buồn nhớ vì xa cách, khi suy tư, trăn trở về sự mong manh của tình yêu, hạnh phúc.

+Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh có ngôn từ, hình ảnh giản dị, gần gũi, giàu nhịp điệu; Chùm nhỏ thơ yêu của Chế Lan Viên sử dụng ngôn từ tinh tế, hình ảnh tượng trưng, mới lạ, độc đáo; ngôn ngữ thơ vừa lãng mạn vừa mang tính triết lí.

– Lí giải sự tương đồng và khác biệt

+ Tương đồng:

Đề tài tình yêu và nỗi nhớ luôn là đề tài bất tận của thơ ca muôn đời, khơi gợi cảm hứng của nhiều nhà thơ.

Cả hai tâm hồn thơ đều tinh tế, nhạy cảm, có những cảm xúc chân thành, mãnh liệt trong tình yêu.

+ Khác biệt:

Mỗi nhà thơ có những suy tư riêng, những cảm quan, phong cách nghệ thuật riêng, vì vậy, họ có những khám phá riêng, biểu hiện riêng về tình yêu và nỗi nhớ.

Thơ Hữu Thỉnh thường mang tính trữ tình, sâu lắng, giản dị, gần gũi; Thơ Chế Lan Viên thường mang tính tượng trưng, siêu thực và triết lí sâu sắc nên ngôn từ, hình ảnh thường phong phú, mới lạ, giàu tính biểu tượng.

* Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai bài thơ và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi bài . Khẳng định sự đóng góp của hai bài thơ, hai tác giả.

Cả hai nhà thơ đều thể hiện những cảm xúc tinh tế, sâu sắc về tình yêu đôi lứa.

– Mỗi bài thơ hấp dẫn theo cách riêng, ghi dấu ấn riêng của mỗi nhà thơ, là sản phẩm trí tuệ không lặp lại.

– Đó chính là quy luật sáng tạo của nghệ thuật nói chung và cũng qua đó bộc lộ được vẻ đẹp đa thanh, đa sắc màu, đa giọng điệu của văn chương nói riêng.

c. Kết bài:

Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu ấn tượng của bản thân về hai bài thơ.

ĐỀ 2: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng “nàng Vọng Phu” trong hai đoạn thơ sau:

TRÒ CHUYỆN VỚI NÀNG VỌNG PHU

…….

– Nhưng nàng chẳng thể nào đợi nổi

Ngày người ấy trở về

Thân thể đã thành tro bụi

Còn nhớ sao được câu hẹn lời thề?

– Người ta thương không thể trở về

Chẳng ai hiểu bằng ta điều đó

Chẳng ai hiểu bằng ta nỗi khổ

Của người vợ chờ chồng…

Ta hóa đá đợi triệu lần nỗi đợi

Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong!

1990

(Vương Trọng, Thơ tình người lính, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1995, tr. 257 – 258)

VỌNG PHU

Đầu nước đá ôm con, cuối nước đá đợi chồng

Đâu chẳng sông Thương đâu chẳng Kỳ Cùng

Là tượng đá của những thời binh lửa

Nàng Vọng phu đầu sông hơn gì nàng Tô Thị cuối sông

Một mình với mây, một mình với gió

Mùa đông một mình mùa xuân hay hạ một mình…

Người ra đi chắc gì quay lại nữa

Trên đầu non lòng đá vẫn kiên trinh

[…]

Không hóa thạch kẻ ra đi, hóa thạch kẻ đợi chờ

Xói mòn những non cao, không xói mòn lòng chung thuỷ

Đá đứng đấy giữa mưa nguồn và chớp bể

Đợi một bóng hình trở lại giữa đơn côi

(Chế Lan Viên, Chế Lan Viên, Toàn tập (Vũ Thị Thường sưu tầm, biên soạn),

NXB Văn học, Hà Nội, 2002, tr. 144)

GỢI Ý

a. Mở bài:

– Dẫn dắt và giới thiệu đối tượng so sánh: tên hai tác phẩm, hai tác giả.

– Nêu vấn đề cần so sánh

Hình tượng “nàng Vọng Phu” trong đoạn trích Trò chuyện với nàng Vọng Phu (Vương Trọng) và đoạn trích Vọng Phu (Chế Lan Viên) có những điểm giống, khác nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật.

b. Thân bài:

* Khái quát về tác giả Vương Trọng và Chế Lan Viên

* Những điểm tương đồng và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó

– Điểm giống nhau của hình tượng “nàng Vọng Phu” trong hai văn bản:

+ Cả hai đoạn trích đều cùng viết về đề tài vọng phu; cùng có cảm hứng về một hiện tượng bi kịch lịch sử khá độc đáo (người vợ chờ chồng ra trận mòn mỏi đến hoá đá)

+ Hình tượng “nàng Vọng Phu” hiện lên trong sự mòn mỏi, cô đơn, mang chở nỗi đau của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến, cho thấy hiện thực khốc liệt của chiến tranh.

+ Hình tượng “nàng Vọng Phu” thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của những người phụ nữ Việt Nam (vẻ đẹp thuỷ chung, kiên trinh, son sắt).

+ Về hình thức NT : cùng sử dụng thể thơ tự do;…

– Điểm khác nhau của hình tượng “nàng Vọng Phu” trong hai văn bản:

+ Nếu Chế Lan Viên mượn sự “hoá thạch” của nàng Vọng Phu để tập trung khắc hoạ số phận và vẻ đẹp của những người phụ nữ Việt Nam thì Vương Trọng lại muốn thông qua sự “hoá đá” của nàng Vọng Phu để nhắc nhở nhân loại về sự cần thiết phải xây dựng một thế giới hoà bình, đề những người vợ muôn đời không phải chịu số phận đau khổ như thế nữa.

+ Cùng thể hiện hình tượng nàng Vọng Phu bằng hình thức thơ tự do nhưng khác với Chế Lan Viên, Vương Trọng đã sáng tạo hình thức đối thoại tưởng tượng giữa mình và nàng Vọng Phu.

– Lí giải sự tương đồng và khác biệt

+ Tương đồng:

Đề tài về người phụ nữ chờ đợi mỏi mòn chồng trong chiến tranh là đề tài thường gặp trong thơ văn, khơi gợi cảm hứng của nhiều nhà thơ, nhà văn.

Cả hai tâm hồn thơ đều tinh tế, nhạy cảm, có những cảm xúc chân thành, mãnh liệt trong tình yêu.

+ Khác biệt:

Mỗi nhà thơ có những suy tư riêng, những cảm quan, phong cách nghệ thuật riêng, vì vậy, họ có những khám phá riêng, biểu hiện riêng về hình ảnh những người vợ chờ chồng trong chiến trận

* Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai đoạn thơ và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi đoạn. Khẳng định sự đóng góp của hai đoạn thơ, hai tác giả.

Đánh giá:

– Hai đoạn trích có điểm tương đồng về nội dung (đề tài, cảm hứng và thể thơ).

– Mỗi đoạn trích cũng cho thấy sự sáng tạo riêng của mỗi nghệ sĩ, từ cách cảm, cách nghĩ đến sự lựa chọn hình thức thể hiện,…

c. Kết luận

Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu ấn tượng của bản thân về hai đoạn thơ

ĐỀ SỐ 3: Viết bài văn nghị luận ( Khoảng 600 chữ ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.

(Xuân Quỳnh, trích Sóng, theo Hoa dọc chiến hào, NXB Văn học, Hà Nội, 1968)

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

(Xuân Diệu, trích Vội vàng, theo Thơ thơ NXB Đời nay, Hà Nội, 1938)

Chú thích:

Xuân Quỳnh (1942-1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở La Khê, Hoài Đức, Hà Nội. Bà nổi tiếng với nhiều bài thơ được nhiều người biết đến như Thuyền và biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa,… Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường. Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.

Xuân Diệu (1916-1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê ở Can Lộc – Hà Tĩnh nhưng sống với mẹ ở Quy Nhơn. Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết. Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng thánh Tám.

GỢI Ý

A. Mở bài:

– Dẫn dắt vào đề tài tình yêu.

– Giới thiệu hai đoạn thơ trích trong Sóng của Xuân Quỳnh và Vội vàng của Xuân Diệu.

B. Thân bài:

1. Luận điểm 1. Khái quát chung : tác giả, hoàn cảnh ra đời, đề tài, vị trí của từng tác phẩm trong đời sống văn học,…

a. Xuân Quỳnh (1942-1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở La Khê, Hoài Đức, Hà Nội. Bà nổi tiếng với nhiều bài thơ được nhiều người biết đến như Thuyền và biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa,… Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường. Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.

b. Xuân Diệu (1916-1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê ở Can Lộc – Hà Tĩnh nhưng sống với mẹ ở Quy Nhơn. Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết. Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng thánh Tám.

2. Luận điểm 2. Những điểm tương đồng và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó.

a. Những điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ:

* Đề tài, chủ đề, cảm xúc chủ đạo

– Đề tài, chủ đề: Tình yêu và khát vọng hòa mình vào tình yêu chung của nhân loại.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình: Yêu tha thiết, khát khao mãnh liệt.

* Nhân vật trữ tình: Đều là những người trẻ với trái tim yêu rạo rực, say đắm, cháy bỏng.

* Hình thức thể hiện:

+ Thể thơ: Thể thơ năm chữ nhịp ngắn, nhanh, giàu nhạc điệu thích hợp nhất để bộc lộ cái tôi đầy khát vọng mãnh liệt và táo bạo của hai nhà thơ về tình yêu.

+ Hình ảnh: Sử dụng những hình ảnh gắn với thiên nhiên, vũ trụ để thể hiện khát khao cháy bỏng : sóng, biển, nắng, gió,….

+ Từ ngữ, kiểu câu: Sử dụng các từ ngữ cùng trường nghĩa, các câu khẳng định ước muốn đoạt quyền tạo hóa để hòa hợp, để bất tử hóa tình yêu.

b. Những điểm khác biệt:

– Nhân vật trữ tình:

+ Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của người phụ nữ luôn băn khoăn, trăn trở. Đó chính là nỗi khát khao được “tan thành trăm con sóng nhỏ” vì nhà thơ bằng trực cảm của mình đã nhận ra tình yêu không thuộc về vĩnh viễn.

+ Vội vàng của Xuân Diệu bộc lộ một cái tôi sôi nổi, cuống quýt muốn đoạt quyền tạo hóa “muốn tắt nắng”, “muốn buộc gió” để vĩnh cửu tình yêu, để tình yêu mãi vẹn nguyên, non tơ như thuở ban đầu.

– Hình thức thể hiện:

+ Hình ảnh:

++ Sóng của Xuân Quỳnh lựa chọn hình ảnh sóng và biển ẩn dụ cho khát vọng hóa thân, hòa nhập vào tình yêu lớn của cuộc đời, của đất nước, của nhân loại.

++ Vội vàng của Xuân Diệu, với cặp mắt “xanh non, biếc rờn”, thi sĩ lại chọn hình ảnh “nắng”, “gió” để gửi gắm ước muốn níu giữ thời gian, thâu trọn từng khoảnh khắc, được tận hưởng phần “ngon nhất” của cuộc đời là mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc,…

+ Giọng điệu: Sóng của Xuân Quỳnh ẩn chứa những suy tư nhiều trắc ẩn của người phụ nữ luôn da diết về hạnh phúc bình dị, đời thường, Vội vàng của Xuân Diệu sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết.

+ Từ ngữ, biện pháp tu từ: Sóng ẩn dụ cho trái tim người con gái dù táo bạo, mạnh mẽ mà vẫn khiêm nhường trong khát vọng hòa vào biển lớn tình yêu muôn đời; Vội vàng chọn những động từ mạnh “tắt”, “buộc” mong vũ trụ ngừng quay, thời gian dừng lại để thi nhân được hưởng trọn vẹn những phút giây đẹp nhất của đời người,…

c. Lí giải sự tương đồng và khác biệt:

– Tương đồng:

+ Đề tài tình yêu và khát vọng hòa mình vào tình yêu chung của nhân loại luôn là đề tài bất tận của thơ ca muôn đời.

+ Cả hai tâm hồn thi sĩ đều viết về tình yêu bằng trái tim yêu tha thiết, chân thành, mãnh liệt, đắm say, rạo rực,…như tình yêu muôn đời vẫn thế.

– Khác biệt:

+ Sóng là khát vọng tình yêu lứa đôi, là khao khát được tận hiến, được hi sinh cho một tình yêu đẹp, “giữa biển lớn tình yêu để ngàn năm còn vỗ”. Còn trong Vội vàng, ấy lại là một quan niệm nhân sinh về lẽ sống: sống vội vàng , giục giã để tận hưởng những giá trị của cuộc sống.

+ Mỗi nhà thơ mang những suy tư riêng, những cảm quan riêng, tình yêu trong mỗi nhà thơ được nhìn bằng lăng kính nghệ thuật riêng, hình ảnh, giọng điệu, từ ngữ, sắc màu riêng,…không thể trộn lẫn.

3. Luận điểm 3. Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai đoạn thơ và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi đoạn. Khẳng định sự đóng góp của hai đoạn thơ, hai tác giả.

– Cả hai nhà thơ đều mang trong mình tình yêu và viết về tình yêu cùng những khát khao đầy nhân văn.

– Mỗi đoạn trích hấp dẫn theo cách riêng, ghi dấu ấn riêng của mỗi nhà thơ, là sản phẩm trí tuệ không lặp lại.

– Đó chính là quy luật sáng tạo của nghệ thuật nói chung và cũng qua đó bộc lộ được vẻ đẹp đa thanh, đa sắc màu, đa giọng điệu của văn chương nói riêng.

C. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các đoạn thơ

Yêu, là chết ở trong lòng một ít/ Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu (Xuân Diệu). Dẫu vậy, tình yêu vẫn luôn hấp dẫn mọi thời đại cùng những khát khao… muôn đời không bao giờ lặp lại. Với những tài năng độc đáo, Xuân Quỳnh và Xuân Diệu đã thực sự đánh thức trong người đọc rất nhiều xúc cảm.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo

0918926541